Vai trò, sứ mệnh của trí thức và sĩ phu thời đại

Trước tình hình đất nước hiện nay, cộng đồng Việt Nam hải ngoại nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung lâm vào tình trạng chia rẽ phân hóa, khủng hoảng lãnh đạo, bế tắc nhiều mặt. Nhiều người đã đăt câu hỏi trí thức Việt Nam có còn giữ đúng vai trò, và thực hiện được trách nhiệm của mình?

Giới trí thức có giữ được “tinh thần của kẻ sĩ” ngày xưa? Ưu khuyết điểm của giới trí thức Việt Nam là gì? Vai trò, sứ mệnh của kẻ sĩ, trí thức và sĩ phu thời đại là thế nào? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu, và trả lời các câu hỏi trên.

I. Xác định nghĩa các từ: kẻ sĩ, trí thức và sĩ phu

1. Kẻ sĩ

Căn cứ theo từ điển: sĩ là người học trò – Người nghiên cứu học vấn (Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh trang 192). Tuy nhiên đây chỉ là nghĩa gốc, nghĩa căn bản của từ. Chúng ta cần đặt chữ “sĩ” trong môi trường và ý hướng của nền giáo dục theo nho học của các thế kỷ trước để hiểu chữ “sĩ” hay “kẻ sĩ” một cách thấu đáo và sâu sắc hơn.

Đành rằng “sĩ” là người học trò, song theo quan niệm của ông cha ta xưa : “Tiên học lễ, hậu học văn” người học trò xưa trước khi trau dồi kiến thức (hiểu biết) phải “học Lễ” tức học luân lý đạo đức -học “làm người” trước hết, tức là đặt cái học “thành nhân” lên trên cái học “thành công” như trong thời đại chúng ta.

Không những thế, các tiên nho còn đưa ra các châm ngôn có tính cách khuôn vàng thước ngọc cho các “kẻ sĩ” mà tiêu biểu cho tinh thần “kẻ sĩ” là câu “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (Lo trước nỗi lo của thiên hạ và vui sau điều thiên hạ vui” Do trên chúng ta có thể rút ra một kết luận khá chân xác về kẻ sĩ là: “Người có đạo đức + kiến thức + có lý tưởng + và trách nhiệm phụng sư tha nhân”. Thiếu một trong bốn yếu tố nói trên, không phải là “kẻ sĩ” và càng không bao giờ có tinh thần “kẻ sĩ”.

Lý thuyết gia Lý Đông A đã khái quát. Bốn đức tính hay bốn yếu tố nói trên trong hai chức năng chính của “kẻ sĩ” là “hướng thượng” và “hướng tha”… Hướng thượng là hướng về trời về đạo đức tâm linh. Còn “hướng tha” là có lòng yêu người, yêu dân tộc, yêu đồng bào và yêu nhân loại. Do trên nếu người trí thức hay “kẻ sĩ” nào mà không biết sống “hướng thượng” cũng chẳng “hướng tha” thì không xứng đáng là “kẻ sĩ’ hay “ người trí thức” vậy.

2. Trí thức

Theo Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức, tác giả đã đưa ra định nghĩa có tính chất phổ thông: “Trí thức: là người học giỏi, hiểu biết nhiều”. Nhưng nếu chỉ như vậy thôi thì định nghĩa về người trí thức hoặc thiên về chuyên môn, hoặc thiên về lợi ích cá nhân và dĩ nhiên là không đầy đủ so với định nghĩa về “kẻ sĩ” bao gồm bốn yếu tố hay hai chức năng kể trên.

Theo Paul Alexandre Baran (một kinh tế gia và cũng là một học giả nổi tiếng Hoa Kỳ) trong bài “Thế nào là người trí thức”? (The Commitment of the intellectual) tác giả phát biểu về người trí thức là người “lao động về trí óc” và ngoài yếu tố kiến thức ra , người trí thức còn là người hội đủ có các yếu tố: (1) Trung lập về đạo đức, (2) Khao khát chân lý, (3) Tôn trọng sự thật, (4) trí thức, còn là người phê phán xã hội….

Với nhận định của Paul Alexandre Baran về người trí thức, chúng ta thấy định nghĩa này gần như tương đương, tương đồng với định nghĩa về vai trò của “kẻ sĩ” theo quan niệm của phương Đông và Việt Nam.

3. Sĩ phu

Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh “sĩ phu chính nghĩa là người đàn ông – Dùng nghĩa rộng là những người có học thức trong một nước” (HVTĐ trang 193) hay theo Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trụ hiệu đính thì “sĩ phu”: dt, Đàn ông//người tai mắt trong một xã hội (TĐVN trang 1291).

Vậy theo định nghĩa của cả hai ông Đào Duy Anh và Lê Văn Đức thì “sĩ phu” là người trí thức có tầm vóc quốc gia . Đây là định nghĩa phổ thông mà mọi người chúng ta đều có thể chấp nhận được. Tuy nhiên theo thiển ý của chúng tôi “sĩ phu” là người có công trình lập đức – lập công – hay lập ngôn. Nếu không đòi hỏi cả “tam lập” thì ít nhất cũng đạt được “nhất lập” trong “tam lập” nói trên, mới xứng đáng là bậc “sĩ phu”.

II. Tinh thần kẻ sĩ, vai trò giới trí thức bị thử thách qua các biến cố lịch sử:

1. Trí thức dưới chế độ thực dân Pháp

Kể từ năm 1859 khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định, chính thức mở đầu việc xâm lược thực hiện chế độ thực dân tại Việt Nam. Phong trào chống thực dân Pháp từ lớp văn thân qúy tộc và “sĩ phu” bất khuất được dân chúng hưởng ứng theo về, bừng khởi tạo thành các cuộc kháng chiến anh dũng từng địa phương.

Miền Nam có Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực… Miền Trung có triều đình vua Hàm Nghi, Phan Đình Phùng (chiến khu Cần Vương), triều đình Duy Tân có Thái Phiên, Trần Cao Vân… Miền Bắc có Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Việt Nam Quang Phục Hội và phong trào Đông Du cũng nuôi hi vọng Cần Vương… Nhưng tất cả đã bị thất bại trước võ khí mới của thực dân. Các chiến khu bị phá vỡ, các lãnh tụ bị tử tiết, bị lưu đầy hoặc thoát ra hải ngoại.

Công cuộc nổi dây chống thực dân Pháp bất thành, nhưng điều đáng nói là tinh thần kẻ sĩ, sĩ phu đã bừng sáng hơn bao giờ hết… Trong phạm vi bài này, tôi chỉ nêu lên tinh thần của một kẻ sĩ tiêu biểu trong là Nguyễn Trung Trực.

Nguyễn Trung Trực cầm đầu nghĩa quân chống Pháp từ tháng 6/1861 tại Vũng Gù (Định Tường). Từ đây ông di động luôn tại các tỉnh miền Đông và miền Tây. Thành tích nổi bật của ông là đã chỉ đạo đốt tàu Esperence hai lần tại vàm Nhật Tảo và vàm Cỏ Đông làm cho thực dân Pháp kinh hồn bạt vía.

“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạc Kiên Giang khiếp quỷ thần”

Tại miền Trung, Phan Đình Phùng lập chiến khu. Ngoài bắc, Đề Thám mệnh danh là con hùm sám Yên Thế đã làm cho thực dân Pháp nhiều phen điên đảo…

Tiếp theo là các bậc sị phu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng phong trào Đông Du…

Nguyễn Thái Học – một thanh niên trẻ – trở thành đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, (24/12/1927) ông chủ trương phát động cuộc khởi nghĩa ngày 10/2/1930 “không thành công cũng thành nhân”. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị bắt và bị đưa ra hội đồng đề hình luận tôi, giữa hội đồng, can đảm nhận hết trách nhiệm.

17/6/1930 bị đưa lên đoạn đầu đài ở Yên Bái cùng với 12 đồng chí khác. Trước khi lên đoạn đầu đài ông tuyên bố: “Nên độc lập dân tộc phải trả bằng máu” “Hoa tự do phải tưới bằng máu”…

2. Trí thức, văn nghệ sĩ miền Bắc Việt Nam

(Người đọc tự tìm đọc!)

3. Trí thức, văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam

(Người đọc tự tìm đọc!)

III. Những ưu và khuyết điểm của giới trí thức Việt Nam:

1. Ưu điểm:

  1. Thuộc thành phần lao động trí óc nên có cuộc sống an nhàn, và thường có địa vị tốt trong xã hội.
  2. Là nguyên khí của quốc gia.
  3. Là những người tiên tri, tiên giác của cộng đồng, tinh hoa, lương tâm của dân tộc và thời đại.
  4. Thường được quần chúng nhân dân kính trọng.
  5. Chế độ chính trị tốt luôn trọng hiền đãi sĩ, dám sử dụng người tài. Chỉ có chế độ độc tài mới sợ, canh chừng, và đàn áp trí thức.

2. Khuyết điểm:

  1. Thiếu tinh thần mạo hiểm, thiếu óc sáng tạo.
  2. Đa phần còn mang “tâm lý nho quan”, “thích làm lãnh tụ”…
  3. Chưa nghiên cứu sâu các nền văn hóa, văn minh trên thế giới.
  4. Chưa đi sâu vào “tâm đạo” nên chưa vượt được mình, do đó chưa có sáng tạo lớn.
  5. Thiếu viễn kiến về văn hóa – tôn giáo – chính trị mang tầm vóc quốc tế.
  6. Chưa thấm nhuần triết lý “tri- hành hợp nhất” nên có lý tưởng mà thiếu thực dụng.
  7. Còn nặng vể “cái ta” thiếu tinh thần hòa hợp với tập thể trí thức.
  8. Thiếu tinh thần đoàn kết, đầu óc tổ chức và tầm nhìn triết lý nên chưa lập ra được các đảng phái mới.
  9. Chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của quần chúng nên chưa hòa mình vào quần chúng.
  10. Chưa đi sâu vào đạo sống và hồn tính dân tộc.
  11. Chưa thực sự phản tỉnh uyên thâm, chưa đại thức tỉnh để vượt mình.
  12. Chưa (chuẩn bị) tập đại thành văn hoá Việt Nam, năn hoá phương Đông và phương Tây.

IV. Sứ mệnh,vai trò của kẻ sĩ, trí thức, sĩ phu thời đại

1. Bài học lịch sử:

Kinh qua ba giai đoan lịch sử: thời kỳ Pháp thuộc, chế độ cộng sản 1954-2010 và Việt Nam cộng hòa (1955-1975) chúng ta thấy tinh thần kẻ sĩ, vai trò và sứ mệnh của giới trí thức sĩ phu như thế nào? Giới trí thức có làm tròn trách nhiệm của mình không? Tại sao?

Để trả lời các câu hỏi trên đây. Căn cứ vào thực tế lịch sử, chúng ta có thể tóm tắt vào mấy điểm sau đây:

– Tinh thần kẻ sĩ xưa hay tinh thần của giới trí thức nay vẫn còn kiên cường bất khuất trước bạo lực, và vẫn bền bỉ đấu tranh chống độc tài áp bức, đòi tư do độc lập cho đất nước, đòi nhân quyền dân chủ tư do cho toàn thể nhân dân Việt Nam.

– Tuy tinh thần kẻ sĩ vẫn còn, tinh thần trí thức vẫn cao, nhưng giới trí thức đã không đóng nổi vai trò dẫn đạo lịch sử, dẫn đạo cho chính trị mà còn bi các thế lực chính trị đẩy giới trí thức sang bên lề lịch sử, thậm chí giới trí thức còn trở thành “nạn nhân” của lịch sử. Những trí thức bị các chế độ độc tài quân phiệt cầm tù, thủ tiêu là bằng chứng xác thực minh chứng cho nhận định này.

– Khi vai trò của kẻ sĩ, trí thức bị thực tế lịch sử phủ nhận, thì đương nhiên giới trí thức đã không làm tròn trách nhiệm hay sứ mệnh của mình. Nói khác đi thì giới trí thức đã thất bại, không chu toàn được trách nhiệm, sứ mạng của mình với quốc dân.

2. Vai trò, sứ mệnh mới của trí thức và sĩ phu thời đại

  1. Giới trí thức, sĩ phu thời đại thấm nhuần đạo tâm sẽ thắp sáng được ngọn lửa dân chủ toàn dân và toàn cầu. Đây là chìa khoá mở tất cả các cánh cửa thời đại.
  2. Giới trí thức, sĩ phu thời đại cần nắm vững tinh hoa của nền dân chủ trên thế giới để hình thành những nguyên lý và nguyên tắc căn bản để phục hưng, kiến thiết đất nước.
  3. Giới trí thức, sĩ phu thời đại cần thấm nhuần đạo sống, hồn tính dân tộc sẽ phát huy và sáng tạo được những giá trị mới, đưa đất nước tiên lên giàu mạnh và văn minh.
  4. Giới trí thức, sĩ phu thời đại cần thâm cứu, chuẩn bị tinh thần cho cuộc đại hòa điệu văn hóa Việt Nam vào phương Đông và phương Tây.
  5. Giới trí thức, sĩ phu thời đại cần có viễn kiến văn hóa, tôn giáo, chính trị toàn cầu mới khai phóng được lịch sử và thoát ra khỏi mê cung của thời cuộc.
  6. Giới trí thức, sĩ phu thời đại cần phản tỉnh thâm uyên, và đại phản tỉnh để tự vượt chính mình.
  7. Giới trí thức, sĩ phu thời đại cần có quan niệm tổ chức mới thích hợp với thời đại mới, kỉ nguyên dân chủ toàn cầu.
  8. Giới trí thức, sĩ phu thời đại cần hoà mình vào quần chúng để đại đoàn kết quốc dân, kết sinh dân tộc.
  9. Giới trí thức, sĩ phu thời đại với sứ mệnh: cứu quốc, kiến quốc cùng thắt giải đồng tâm.

Chu Tấn

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: