Phóng túng và chuẩn mực

Phóng túng và chuẩn mực là hai tính cách trái ngược khó có thể cùng có trong một con người. Tuy nhiên đó là do giáo dục và định kiến xã hội, nhất là do truyền thống văn hóa. Các chuẩn mực hay mực thước Nho học vẫn được coi là căn bản nhất của giới tri thức Việt Nam từ xưa đến này. 

Đối lập với nó là sự phóng túng tự do của những tầng lớp thấp hơn trong xã hội. Như thế thì nhìn tổng quát, sự phân chia của Nho học xưa nhằm tạo một tầng lớp chủ đạo trong xã hội. Nho học lấy những chuẩn mực làm chủ đạo và rồi những trào lưu Tây học cũng tạo nên những tầng lớp trí thức khá cấp tiến. Dĩ nhiên tính cấp tiến này lại cũng phải dựa trên những chuẩn mực mới để phá vỡ những chuẩn mực cũ. Tầng lớp trí thức mới và cũ này đã và đang trộn lẫn vào nhau, va đập và trượt lên nhau. Kết quả là xã hội chúng ta đang hứng chịu những cơn “lốc xoáy” nào đó. Họ có một điểm chung: đó là đều dựa trên những chuẩn mực.

Điểm qua quá trình phát triển của văn minh và khoa học phương Tây, tôi thấy rằng những tầng lớp cấp tiến là những kẻ luôn phá bỏ những chuẩn mực của xã hội phong kiến, giảm thiểu sự chi phối của nhà thờ lên xã hội, đưa khoa học trở thành những chuẩn mực mới trong phát triển xã hội. Nhưng ở đây tôi có quá vội vàng và sai lầm không khi hiểu “khoa học là những chuẩn mực mới” ? Copernicus và Galileo đều phá bỏ các chuẩn mực hiểu biết đương thời về tự nhiên, bằng một cách nào đó mà tôi chưa nên vội dùng từ “khoa học”. Chính Descartes cũng đã nói “không điều gì được xem là đúng cho đến khi nền tảng để tin rằng nó đúng được thiết lập”. Có thể gọi các cách thức của Corpernicus, Galileo và nền tảng của Descartes là khoa học.

Tuy vậy đó chỉ là danh từ ngắn gọn nhằm dễ truyền đạt, rất dễ bị hiểu nhầm giữa “nhà khoa học” và “tính khoa học”. Và đây là điều mà những nhà Nho học có thể sử dụng nhằm đồng hóa trí thức, khoa học với những chuẩn mực của Nho học, vô hình trung mà những nhà khoa học, trí thức lại đứng chung, thống nhất với nhau trên những chuẩn mực “Nho-Khoa học” và sai lầm hơn khi họ đã và đang đấu tranh cho Nho-Khoa học đó. Xét về mặt nhận thức thì họ đã bỏ qua quá trình này. Nhận thức xưa nay của con người vẫn tuân theo quá trình đi từ tính-từ sang danh-từ, hay từ bất định sang xác định, nó xa rời dần thực tế và “mờ đi” qua sách vở. Nho giáo xưa trải qua mấy nghìn năm cũng chỉ có vậy, chỉ là sự chau chuối qua hình thức sách vở và chữ nghĩa. Những nhà khoa học lớn luôn né tránh lối nói xác định (sử dụng quá nhiều danh từ và thần ngôn mang tính khẳng định), họ sợ xa rời các quá trình nhận thức.

Đi sâu hơn thì tôi thấy giữa tri thức và nhận thức có nghịch lý và đối lập. Khi bạn muốn gặt hái tri thức thì bạn xa rời nhận thức, khi bạn cần quan sát để nhận thức thì bạn chớ ham hái lượm tri thức. Điều tối ưu là bạn cần những tri thức gì cho nhận thức của bạn. Như thế thì nhận thức vẫn quan trọng hơn, mặc dù trong suốt quá trình này vẫn có sự tương tác bổ sung qua lại giữa hai mặt. Để nhận thức đóng vai trò chủ đạo thì bạn phải tạm quên tri thức mà bạn thu lượm được, tri thức này sẽ tự động dàn trải trong suốt quá trình nhận thức.

Mở rộng hơn thì ta có thể kết luận tri thức hay nhà trí thức khó có thể đóng vai trò chủ đạo trong xã hội với cách hiểu về họ như hiện nay, vì xã hội cần tiến lên, vì tri thức và nhận thức vẫn chen chân nhau trong cùng một không gian và thời gian hạn hẹp, như bước chân của họ vậy, họ không thể một lúc bước cả hai chân, mà có bước được như vậy thì họ chỉ có thể nhảy như Căng-gu-ru hay họ phải có nhiều chân hơn !? Nếu nhận thức là chủ đạo của xã hội thì tầng lớp nào nhận thức rõ hơn vấn đề ? Chúng ta hay đa số trí thức vẫn phân vân chưa phân định được giữa “mở đường”, đi trên những con đường thênh thang, hay phải “đặt những nền tảng chuẩn mực”. Phân vân giữa “bước đi” và “bước lên” đấy chính là đấu tranh giữa nhận thức và tri thức. Và triết học vẫn phải làm công việc mở đường, phân tích sâu hơn nhằm tìm một chủ đạo ưu tiên.

Như việc xã hội chúng ta nên ưu tiên tìm những con lạc đà (đáp số hay con số 0 nhận thức), hơn là tìm kiếm những thứ chưa được biết đến, hay xã hội chưa nhận thức hết được (tìm ẩn số X). Tri thức chỉ có thể đóng vai trò bước chân tiếp theo sau nhận thức xã hội, nó sẽ góp phần dàn trải nhận thức này, phá vỡ những nền tảng chuẩn mực của Nho-Khoa học. Khi mà những nền tảng gọi là chuẩn mực của xã hội không còn thì con người trong xã hội đó sẽ cảm thấy chơ vơ hơn, vì không còn những điểm tựa. Tuy vậy, nếu bạn là trí thức hay nhà khoa học chân chính bạn phải có đủ năng lực để quán xuyến điều này. Chính năng lực này khẳng định địa vị trí thức của bạn trong xã hội. Như thế thì xã hội mới có thể xem người trí thức, khoa học là những nền tảng chuẩn mực, tuy bản thân họ chẳng dựa trên những chuẩn mực, nền tảng nào cả.

Thực tế bạn vẫn thấy, trí thức ngày nay đã bị “Nho hóa” và dựa trên nền tảng Nho-Khoa học, họ vẫn đang tranh đấu để được trở thành thượng tầng kiến trúc, đỉnh của “kim tự tháp xã hội”, lôi kéo xã hội hướng lên “chiều cao” mà họ cho rằng đó mới là nhận thức đúng. Chính điều này khiến một số vừa hưởng lợi ích của xã hội, vừa đối lập với nhà cầm quyền. Họ có thể đã trở thành những kẻ lừa đảo hợp pháp nhất, vừa đóng vai trò tòa án đối với chính phủ, vừa đóng vai trò luật sư đối với xã hội, vừa biện hộ cho những lợi ích của mình, vừa đổ vấy trách nhiệm lên kẻ khác. Đấy là những mặt trái mà tôi muốn các nhà trí thức nên nhận thức rõ hơn về vai trò của họ, hơn là tìm kiếm những lối thoát cho sự tự do phóng túng của mình. Tự do phóng túng cũng không phải để đối lập với những nền tảng chuẩn mực, mà đó chính là nền tảng chuẩn mực.

Có một sự tương đồng về mặt xã hội giữa hai khái niệm “xã hội mở-xã hội đóng” với “tự do phóng túng-nền tảng chuẩn mực”. Cũng sẽ sai lầm nếu bạn hiểu khái niệm đóng-mở một cách tĩnh tại như việc đóng hay mở một cánh cửa. “Mở” và “đóng” cũng chẳng còn là hai mặt đối lập của một thực thể nữa. Người trí thức chỉ có thể khai thác hết những khả năng mở của xã hội để đánh thức những mặt đóng của nó, chứ không thể áp đặt, dù là bằng những nguyên tắc lý thuyết, sự cởi mở lên mặt đóng đó được. Cách tốt nhất để xã hội tuân theo những nền tảng chuẩn mực là xã hội phải khép kín.

Mâu thuẫn ở các nhà trí thức cải cách ở Việt Nam là họ vừa muốn mở cửa, vừa muốn nó tuân theo những chuẩn mực khác đã được xác lập ít nhất là tại một số nước. Rất khó phá bỏ một áp đặt bằng một sự áp đặt khác. Mức độ dân chủ của Việt Nam hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng cởi mở của từng trí thức. Không phải là chúng ta tìm kiếm và đi lên từ những nền tảng chuẩn mực, mà nó sẽ được nâng lên, chuẩn hóa hơn từ sự cởi mở của các nhà trí thức, và vì tự thân tri thức cũng đã là một sự tự do phóng túng, hoàn toàn khác với sự độc đoán của Nho học xưa, khi mà xã hội chỉ có thể bình yên dưới sự ngự trị của những chí nhân quân tử.

Ở đây ta lại vấp phải sự bất phân định nữa của các trí thức, là chúng ta muốn xã hội bình yên hay xã hội phát triển ? Rõ ràng khi những trí thức cũ và mới đứng lại với nhau, thậm chí va chạm nhau thì họ muốn cả hai. Lấy chuẩn mực này để phản biện lại chuẩn kia là điều vô nghĩa. Hậu quả là chúng ta có thể mất cả hai. Tuy nhiên, để xã hội phát triển thì chúng ta cần bận rộn hơn là nhàn tản, và giá trị của trí thức phụ thuộc vào mức độ tư do của họ hơn là vật chất hay danh vọng mà họ đạt được.

Phan Bien

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

5 Responses to Phóng túng và chuẩn mực

  1. Phan Bien says:

    Tôi không nghiên cứu kinh tế hay xã hội mà sống trong đó cùng với những nỗi trăn trở. Tất thảy trí thức tôi gặp đều áp đặt một chuẩn mực nào đó lên người khác, họ ở trong hệ thống và giữ vai trò của mình trong hệ thống đó. Tôi chưa thấy họ đưa ra được những sáng kiến nào, dù nhỏ, rất nhỏ. Họ rất “dị ứng” với những sáng kiến của nhân viên, họ không có văn hóa công nhận người khác, thậm chí đánh cắp sáng kiến và trù dập luôn người đưa ra sáng kiến đó. Thế còn các Viện nghiên cứu ? Sự Nho hóa có thể biến các Viện đó thành những dạng… Tu viện, nhà dòng nào đó. Nếu khi xưa Corpecnicus hay Galileo đề nghi xây các tu viện, nhà thờ thì chắc chắn được nhà thờ hay chính quyền hoan nghênh.

    Nước ta hiện nay cũng vậy, đảm bảo 100% tán thành các Viện nghiên cứu khoa học. Hỏi chính quyền của chú Kim cũng thế, họ cũng sẽ nhiệt liệt tán thành các viện nghiên cứu khoa học, thậm chí các viện đó còn vận hành một cách trơn tru hơn bất cứ viện nghiên cứu nào trên thế giới. Thế nhưng để phục vụ người dân thì là vấn đề hoàn toàn khác. Ở Việt Nam cũng vậy, tất thảy trí thức đều muốn nhàn tản trong những viện đó, nó khiến họ trở nên rất oai nghiêm. Mà việc phát hiện ra nhu cầu người dân, tổ chức điều hành bộ máy, tìm kiếm thị trường lại là khả năng của bất kỳ người dân nào, chứ không chỉ là khả năng của người trí thức. Đấy là một định kiến, nó tạo nên bởi giáo dục, bởi tuyên truyền, được sự hỗ trợ bởi nạn quan liêu hành chánh và nhất là chủ ý của chính quyền mà chính người trí thức cũng muốn yểm đi sự ưu đãi này đối với họ.

    • Vậy là ông bạn cũng đã thấy cô đơn rồi! Không biết ông bạn thấy điều đó lâu chưa, còn tôi đã mang cái cảm giác đó khoảng 4 năm gần đây. Cô độc giữa đám bạn bè, giữa gia đình… Nhưng ông bạn cứ yên tâm với hai điều:
      – Không ít người gặp tình huống đó đâu.
      – Sống trên đời, có thể ta chỉ sống với vài người thôi.
      Vậy người nghiên cứu phải có bản lĩnh để thắng được sự cô độc. Bởi vì không cô độc thì khó mà nghiên cứu được. Mà tôi nghĩ, khi nghiên cứu người ta không còn tâm chí để nghĩ về sự cô độc.

      Liệu ông bạn có cho rằng người nghiên cứu và trí thức là một? Tôi e là hai kiểu người này khác nhau. Nhưng đúng là trí thức trong viện nghiên cứu thì phải nghiên cứu. Trừ khi lên làm quản lý, mang nhiệm vụ định hướng, truyền lửa…

      Người nào mà hay đố kỵ, không công nhận thành quả của người khác thì làm ông nông dân cũng khó. Nói gì đến trí thức, hay nhà nghiên cứu.

      Liệu bạn có xử oan cho Nho giáo là kém linh hoạt. Tôi nghĩ là không phải vậy. Bởi nếu nó thể, khó có thể tồn lại lâu đến vậy. Đồng ý là bạn có thể nói: người cầm quyền mượn nó để dễ trị dân. Nhưng tôi nghĩ tinh thần tự do và sự tự do của mỗi người nằm ở chính họ, chứ không phải thứ tôn giáo mà họ theo. Thứ tôn giáo nào giáo điều, kiên cưỡng sẽ khó bề tồn tại, nhất là trong điều kiện của thế kỷ 21 này. Vậy nên tôi cho là chỉ có con người kém linh hoạt thôi, chứ không phải thứ chủ thuyết họ theo.

      Cuộc tranh luận về trí thức hay trí ngủ (trùm chăn) vừa qua khá sôi động. Bên nào cũng có lý của mình. Trí thức nào chỉ chuyên tâm vào nghiên cứu, thì bị coi là trùm chăn. Thậm chí đang phân vân cũng bị gọi là trùm chăn. Vì trí thức “có lý tưởng vì dân” họ hành động từ lâu rồi, thậm chí từ khi còn chưa là trí thức ấy. Giống như đa số những nhà tỷ phú làm nên từ hai bàn tay trắng. Họ lao vào xã hội từ trước 20 tuổi, khi mà những người khác hơn họ đến 10 tuổi đang phân vân xem nên làm gì.

      Trí thức thúc đẩy xã hội, nhưng trí thức cũng là cái phanh của xã hội. Một chiếc xe sẽ không dám đi nhanh nếu không có hệ thống phanh tốt.

      Chuyện đời, chuyện người là vậy. Nhưng ta cứ phải sống với chuyện của ta. Ta nên là một nhà nghiên cứu, một trí thức (công chức, viên chức), hay một thương gia? Cố gắng sống vui trước đã và hãy nhớ là: đừng nỗ lực làm hết mọi thứ!

  2. Phan Bien says:

    Có một câu nói rất hay của Einstein mà lại được đặt đầu trang nữa:
    “Nếu chúng ta biết rằng chúng ta đang làm gì, thì công việc đó đã không còn được gọi là nghiên cứu”.

    Nếu chúng ta quay về thời Corpecnicus hay Galileo thì thử hỏi các ông ấy có đưa ra yêu sách về nghiên cứu khoa học với chính quyền hay nhà thờ không ? Và quay trở lại câu nói của Descartes: “Không điều gì được xem là đúng cho đến khi nền tảng để tin rằng nó đúng được thiết lập”.

    Đồng ý là Viện toán cao cấp một thứ nền tảng để người ta tin vào cái gọi khoa học, nhưng vẫn chưa đủ chiều sâu, chiều sâu đó nằm ở chính những nhà làm khoa học…

    • Có một sự khác nhau rất lớn giữa ông A và những nhà khoa học bên trên, đó là ông A là nhà kinh tế học.
      Kinh tế học mới gần đây mới được chính thức công nhận là một ngành khoa học. Nó có vẻ là ngành khoa học về xã hội. Sự vận động của nó tuân theo các quy luật kinh tế, các quy luật xã hội. Đặc thù của kinh tế là sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ để cung cấp cho xã hội. Bao gồm cả vận chuyển, mua và bán (thương mại).
      Nhưng kinh tế còn liên quan đến các cơ chế, chính sách của nhà nước, đến sự tham lam của con người (găm hàng chờ tăng giá). Nên đã nghiên cứu kinh tế phải nghiên cứu chính trị. Và xung đột xảy ra có vẻ là điều tất yếu!

      Những nhà khoa học tự nhiên bên trên cũng đấu tranh với nhà thờ giữ dội lắm chứ, nhưng yêu sách để nghiên cứu thì không có. Như bài phản biện trước tôi đã nói: nghiên cứu các quy luật tự nhiên khác hẳn với các quy luật xã hội.
      Nghiên cứu tự nhiên làm cho người ta ngây ngô, còn nghiên cứu xã hội làm cho người ta… như ông A, bà Chi Lan, ông Đăng Doanh.

      Trí thức chỉ là một tầng lớp trong xã hội, cũng có thể đông đúc hoặc thưa thớt được chứ. Điều này phụ thuộc vào người cầm quyền. Như Nguyễn Trãi từng nói: “Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu”.
      Rồi thì bài học của 10 năm cách mạng văn hóa bên Trung Quốc. Còn ở ta thì mới vừa rồi mới có khoán 10 trong khoa học.

      Cá nhân tôi tự nghiên cứu vật lý lý thuyết hơn 10 năm nay. Nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ mình sẽ cần tiền từ đâu đó, hoặc kết quả nghiên cứu nào đó mang lại tiền cho mình. Làm vì yêu thích thôi. Bây giờ choàng tỉnh, nhìn ra mới thấy cuộc sống của mình gặp khá nhiều khó khăn. Người nghiên cứu người ta ngố lắm, không vậy thì sẽ không nghiên cứu được.

      Còn điều kiện tối thiểu, theo tôi có 3 điều kiện cần cho nghiên cứu là:
      – Đủ điều kiện kinh tế.
      – Có không gian, thời gian riêng.
      – Được tiếp cận thông tin tự do.

  3. Cảm ơn Phan Bien!

    Thực sự rất khó khăn khi phản biện bài viết này!
    Vì bài này lại là phản biện của một bài khác, thành thử tôi phải đọc kỹ cả hai bài.

    Tôi xin phép được tóm tắt bài viết của ông Nguyễn Quang A:
    “Xã hội muốn phát triển phải có tri thức và lòng trắc ẩn”:
    – Tri thức sự hiểu biết của chúng ta về các quy luật tự nhiên và xã hội.
    – Tri thức muốn phát triển phải có tự do nghiên cứu, tự do tranh luận và không có sự độc quyền chân lý.
    – Các quy luật tự nhiên khó tường tận – vì chúng ta chưa thể hiểu hết được thế giới tự nhiên.
    – Quy luật của xã hội:
    + Kinh tế: tự do quá cũng không tốt
    + Chính trị: (có vẻ) kiểm soát quá cũng không tốt
    – Và tất nhiên – như tiêu đề bài viết – cần có thêm cả lòng trắc ẩn (thương xót thầm) nữa.

    Vậy:
    – Ông A nói về tri thức, chứ không phải nói về trí thức (tầng lớp trí thức).
    – Rõ ràng tri thức là điểu kiện cần để phát triển. Kiểu nói chân lý rồi bảo đúng!


    Xưa nay tôi thấy xã hội phát triển hay không là ở người cầm quyền. Tức người ta có muốn “dùng” tầng lớp trí thức hay không. Có những trí thức mang kiến thức của mình đi làm điều tệ hại (Như ông A nói). Vậy thì đương nhiên phải cần lòng trắc ẩn rồi. Như câu nói của HCM về “tài và đức” đó. Có điều, tiếp cận vấn đề theo một cách khác làm cho người đọc thấy mới.

    Bài của bạn mới là khó:
    – Chuẩn mực: Nho giáo – chuẩn mực cũ.
    – Phóng túng: Trào lưu mới du nhập từ một số đất nước (khuôn mẫu).
    – Sự thỏa hiệp (đôi khi giẳng xé) giữa hai trào lưu này dẫn đến chuẩn mực lai căng Nho-Khoa học.

    Liệu bạn có cho rằng một số trí thức (trong đó có ông A) có biểu hiện của trí thức gàn, hay “vừa ăn cắp vừa là làng”?

    Nhưng như ông A nói: tri thức có hai loại: tri thức tự nhiên, tri thức xã hội. Về tri thức tự nhiên thì không nói làm gì, vì không có sự mâu thuẫn. Điểm mâu thuẫn giữa hai bài trên nằm ở chỗ tri thức xã hội. Ông A cho rằng xã hội tồn tại có quy luật – cá nhân tôi cảm thấy điều này có vẻ đúng.

    Nước ta nói riêng và cả thế giới nói chung đang bị giằng xé giữa kiểm soát và thả nổi. Sự thả nổi thái quá đã dẫn đến sự suy yếu của CNTB phương Tây. Họ đang hoang mang lắm! Cũng có thể đây là khổ nhục kế của họ để đẩy thế giới đến một cuộc chiến tranh, vì điều đó có lợi cho họ.

    Tôi đã từng nói lớn về tri thức tự nhiên, đã bị gọi là gàn, là khùng, hoang tưởng… Nhưng điều đó không ảnh hưởng đến nồi cơm ai. Tất nhiên đến nồi cơm nhà tôi. Xã hội mặc kệ, ông cứ mơ đi! Rồi khi đói rồi sẽ biết mặt!

    Nhưng quy luật xã hội thì bạn và ông A đụng nhau rồi. Quy luật mà ông A cho rằng đúng là xã hội sẽ dần mở rộng sự dân chủ. (Điều này chưa hẳn đúng vì xã hội hoàn toàn có thể ngược lại nếu người đứng đầu muốn vậy). Còn bạn cho rằng trí thức nên tự do trong sự khép kín (khuôn phép).

    Tự do trong quy luật tự nhiên như tôi, hay trong thơ ca văn phú thì được. Chứ ông A muốn xã hội sẽ dần mở rộng sự dân chủ, thì chắc là có sự mâu thuẫn với bạn.

    Và thêm nữa, ông A có một luận điểm có sức thuyết phục là: các nước phương Tây đã làm rồi và rất phát triển.

    Còn bạn thì cho rằng không nhất thiết phải vậy. Trí thức hoàn toàn có thể tự do trong một môi trường khép kín (*). Vậy theo quan điểm của bạn: xã hội tồn tại có quy luật không và quy luật ấy như thế nào?
    Liệu điều (*) có phải là duy ý chí?

    Cá nhân tôi có một số quan niệm riêng thế này:
    – Kiến thức: thấy mà biết, nhận ra, nhận biết – khi sống, học tập, làm việc
    – Trí thức: lớp người có khả năng nhận ra, nhận biết nên có tư duy và phản biện độc lập
    – Nhận thức: nhận ra kiến thức của mình để áp dụng vào cuộc sống
    – Tri thức: biết biết – biết mình đang biết những gì

    Vậy tri thức là tầng cao nhất của trí tuệ, tức là biết hệ thống lại và cải tiến những điều mình biết.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: