Đạo của sự khác biệt

Chủ nghĩa giải cấu trúc – Trang Tử

Trong cuộc thảo luận về ngôn ngữ, Trang Tử thường sử dụng từ “lý sự” (dispute). Về từ nguyên học, “lý sự” liên quan đến “vi biệt”, giữa là “gươm” và “để phân biệt”. Từ khắc trên biểu diễn một thanh gươm (sword) cắt một vật thành hai. Vì thế, trong đạo giáo của Trang Tử  (Taoism), “lý sự” hàm ý “sử dụng ngôn ngữ để phân biệt hoặc phân tích”. Như hầu hết nhà triết học cùng thời tiền Tần, Trang Tử cũng xem ngôn ngữ như công cụ phân loại và phân biệt hiện thực một cách có hệ thống.

Trang Tử

Trong các thời đại này, ngôn ngữ thường được thay thế bằng “danh tính” (names) vì ngôn ngữ chứa đựng “danh tính” mà chức năng của nó là biểu thị những sự vật trần tục và điều kiện của chúng. Đặt tên một sự vật là chỉ ra khác biệt giữa sự vật này với các sự vật khác, và để khám phá tồn tại lệ thuộc của nó. Theo quan điểm Trang Tử, những vấn đề liên quan là việc tạo nghĩa của ngôn ngữ và tác động của nó lên giác quan con người. Liên quan lớn nhất là tính đối lập ngôn ngữ hoặc thuyết nhị nguyên khái niệm (dichotomy of language or conceptual dualism).

Theo đạo giáo của Trang Tử, ngay khi thế giới được phân loại và phân tích bởi thuyết nhị nguyên khái niệm – có/không, tốt/xấu, sống/chết, đẹp/ xấu, được/mất, thắng/bại, thêm/bớt, dài/ngắn, to/nhỏ… – sử dụng những cái khái niệm trong tiềm thức dẫn ta đến việc xét đoán tức thời về giá trị dẫn đến cách hành động riêng của ta. Hệ quả của của thuyết nhị nguyên khái niệm này là “sự thiên vị” (preferenc) hay “dục vọng”(desire). Con người luôn theo đuổi cái gọi là “tốt” (good) và loại trừ “xấu” (evil). Đáp ứng dục vọng ta cảm thấy tự mãn, ngược lại thất bại sinh thất vọng và nỗi khổ.

Quá trình “thiên vị” và “tham vọng” này là một vòng lẩn quẩn với những ràng buộc mâu thuẫn: vui mừng và giận dữ, u buồn và hạnh phúc, thận trọng và hối tiếc, chợt đến với ta tuần tự, luôn thay đổi trạng thái (trong “Identity of contraries”). Con người bị điều khiển bởi những khái niệm nhị nguyên này. Như Trang Tử nói: “trong đấu tranh giữa bình lặng và náo động, sự va chạm giữa thiện và ác, chỉ thêm lửa hủy diệt sự hài hòa bên trong của con người. Nhưng trí tuệ ta không thể chống lại ngọn lửa ấy. Nó bị phá hủy, cùng với nó, đạo cũng kết thúc” (Contingencies).

Trong mọi loại dục vọng, Trang Tử xem “dục vọng về đạo đức” (desire of morality) là nguy hiểm nhất. Các nhà triết học luôn căn cứ vào những khái niệm nhị nguyên như thiện/ác, đúng/sai, thật/giả… Trang Tử đã nhạo báng họ, cho rằng: “một cách khách quan, ta ý thức về một sự phân định giữa đúng/sai, quan hệ/ràng buộc, phân chia/phân biệt, thi đua/cạnh tranh. Ta gọi những điều này là “Tám điều khả kiến” (Eight Predicables).

Đặc biệt, ông phê bình giáo điều Khổng Tử. Ý tưởng trọng tâm của Khổng giáo có thể qui giảm về khái niệm “nhân đức”(benevolence). Nghĩa là con người, gồm tính người và những tương quan với luật lệ thượng giới. Ý tưởng về “nhân đức” là “nghi thức” (etiquette) và “trí thức” (intellect), dĩ nhiên bao hàm luôn chính sự “nhân đức”. Từ bốn đức tính này, môn đồ Khổng giáo phát triển thành phép phân loại danh xưng phức tạp, bao gồm “chân thật”, “tin tưởng”, “trung thành” và “hiếu thảo”…

Theo quan điểm của các nho sĩ, sự hỗn độn xã hội là do người ta thiếu hiểu biết về những danh xưng này hoặc hiểu biết bị che dấu bởi những danh xưng giả mạo. Chừng nào mà còn phân chia khác biệt – nhân đức/không nhân đức, lễ nghi/vô lễ nghi, trí thức/không trí thức – thì xã hội vẫn còn trật tự. Vì thế các nho sĩ kêu gọi “tái xác lập những danh xưng” (reconfirming the names) ấy. Tuy nhiên, theo quan điểm Trang Tử, nếu khác biệt giữa đúng/sai, thiện/ác được phân định rạch ròi, thì không cần nhấn mạnh “tái xác lập những danh xưng”.

Với việc tham chiếu về điều khẳng định và phủ định, về những gì là như thế và không là như thế… Nếu điều khẳng định là xác thực, nó nhất thiết phải khác với điều phủ định của nó – thế thì đâu còn gì để tranh cãi. Và nếu điều gì thực sự là như thế, nó nhất thiết phải khác với điều nó không thực sự là như thế – như thế cũng chẳng cần tranh cãi.

Bởi vì nó phù hợp với luật lệ về “dục vọng” nên “dục vọng” xuất hiện chỉ khi đối tượng “dục vọng” không tồn tại. Do đó, sự tồn tại “dục vọng” chứng tỏ một loại thiếu hụt hay vắng mặt. Nếu “nhân đức” là xu hướng bẩm sinh của con người theo Khổng giáo, thì ta không cần thiết nhấn mạnh và đề cao những đức tính này. Trang Tử kết luận :“Nếu đức hạnh được trọng vọng, cạnh tranh sẽ đến. Nếu tri thức được khuyến khích, hậu quả sẽ là trộm cắp”. Một khi những danh xưng này được khuyến khích, người ta có thể đấu tranh chống lại nhau vì chính họ, và kết quả việc “tái xác lập danh xưng” là không còn trật tự xã hội, mà chỉ là hỗn độn chết chóc.

Hơn nữa, các nho sĩ xem hệ thống “danh xưng” của họ như những phạm trù tuyệt đối. Hóa ra rằng để kêu gọi và làm gương bằng những “danh xưng” này mà những tín đồ này thậm chí xâm phạm chính cuộc sống riêng của họ. Trang Tử nói: “kẻ nào không màng đến thanh danh của mình, kẻ đó không phải là điều mà người ta muốn. Kẻ nào quên lãng sự tồn tại của mình, kẻ đó không thể cai trị người khác. Vì thế Hu Pu Hsieh, Wu Kuang, Poh I, Shu Ch’I, Chi Tzu, Hs’yu, chi T’o và Shen Tu Ti là những tôi trung tuân theo mệnh lệnh người khác, chứ không phải là của riêng họ”.

Để phá hủy nhị nguyên khái niệm, Trang Tử đã đảo ngược trật tự về các khái niệm đối lập. Ví dụ:

1. Giá trị về những điều vô giá trị: theo quan điểm người thợ, những cái cây vô dụng là hữu dụng (vì nó có thể tránh bị chặt và sống tiếp cuộc sống riêng). Ngược lại, những cái hữu dụng lại trở nên vô dụng (vì nó không thể sống cuộc sống của mình).

2. Dế và ve sầu (Rukh and Cicada)

3. Nàng Li Ji: “Khóc trước cười sau” (The lady Li Ji’s “Crying first and laughing finally”).

4. Một con ếch cừ khôi: cái hay của một con ếch cừ khôi chính là sự vô nghĩa về dòng chảy của con sông (A well-frog: the greatness of well-frog is the insignificance of the spirit of the river).

Các ví dụ này không những chỉ ra những giá trị đó là tương đối và hữu hạn bởi điều đối lập của chúng, mà còn cho ta thấy mọi giá trị đều là tương đối, không cần thiết và gò bó vào bản chất sự vật, bởi con người. Vì thế, để thực hiểu bản chất sự vật hoặc nội cấu trúc của chúng ta phải hiểu ý nghĩa “qui luật về sự khác biệt” (The law of difference). “Khi ta nói một vật là lớn hay nhỏ là vì nó lớn hoặc nhỏ một cách tương đối, và cũng chẳng có cái gì được tạo ra là lớn hay nhỏ. Biết vạn vật chỉ như mầm cỏ dại, và đầu ngọn tóc như khối núi, đó chính là diễn đạt về qui luật khác biệt”.

Dựa vào qui luật khác biệt, các khái niệm đối lập hoặc tương phản có thể được thay thế lẫn nhau. Trật tự thiện/ác và cao/thấp giữa những tương phản này sẽ bị tháo dỡ. Một cách công khai, trong trật tự các khái niệm đối lập, sự tương phản không thể hài hòa với nhau. Tuy nhiên, ở mức độ sâu hơn chúng độc lập và bổ sung cho nhau. Trang Tử nói: “Nếu không có ngoại tại này thì không có tôi. Nếu không có tôi, chúng cũng không thể phát huy. Ta chỉ có thể nói như thế”.

Nếu có một sự ‘khởi đầu’, thì cũng có một thời lượng trước đó. Và một thời lượng trước cả cái thời lượng của tiền ‘khởi đầu’. Nếu có sự ‘tồn tại’ thì cũng phải có ‘không tồn tại’. Và nếu có một thời lượng mà ‘không có gì’ đã tồn tại, thì cũng phải có một thời lượng trước đó, khi mà thậm chí cái ‘không có gì’ chưa tồn tại. Khi cái ‘không có gì’ bất chợt xuất hiện, thì ta có thể nói liệu nó có thuộc về phạm trù tồn tại hoặc phạm trù không tồn tại?

Trong tác phẩm của Trang Tử, qui luật về khác biệt là nội cấu trúc các khái niệm, danh xưng và biểu tượng.

Chiến lược mà Trang Tử sử dụng để phá hủy đối lập ngôn ngữ cũng được gọi là “chủ nghĩa giải cấu trúc”. Như J. Derrida, Trang Tử bắt đầu với trật tự khái niệm, và chứng minh cái gọi là cao hơn (tồn tại, cuộc sống, tôi, đây) đã luôn được hàm nghĩa cái thấp hơn (không có gì, chết, đó, sự vật) được giả định cho cái trước. Vì thế, Trang Tử đã phơi bày những giới hạn của những đối lập này.

Lưu ý sự tương đồng giữa luật về khác biệt của Trang Tử và “khác biệt” của Derrida. Cả hai phơi bày những tương phản, chúng thực sự lệ thuộc lẫn nhau, bổ sung cho nhau. Trong bài luận về sự trì biệt (différance), Derrida so sánh từ “trì biệt” với từ “tạo thuận lợi” (facilitation) của Freud, vốn xuất xứ từ tiếng Đức “bahnung”. Từ này hàm nghĩa “mở ra một con đường” và gợi nhớ đến từ “Taos” với nghĩa đen là “cách thức” hoặc “con đường”. Qui giảm từ nguyên học đến chữ tượng hình – chữ ‘đạo’.

J. Derrida

Tương tự Trang Tử, Derrida cố gắng xuyên tạc khái niệm “khác biệt” khỏi những kiểu cách cổ điển vốn phát sinh từ một sự hiện diện nguyên thủy. Derrida tuyên bố “bất khả quyết” (undecidable) không thể qui giảm về logic này hoặc kia của siêu hình phương Tây. Logic này dựa trên tập quán dĩ ngôn vi trung về đối lập nhị phân và hoạt động dựa trên ba nguyên tắc chính:

1. Nguyên tắc về tính đồng nhất: A là A

2. Nguyên tắc phi mâu thuẫn: A không thể là -A

3. Nguyên tắc bài trung: sự thật hoặc là A hoặc là -A

Derrida biến đổi logic nhị phân này hoặc kia thành logic giải cấu trúc về cả hai và (hoặc) chính xác hơn, không này chẳng nọ. Bằng cách này, ông giải cấu trúc các khái niệm khả quyết thành các dấu tích bất khả quyết (undecidable). Chúng không thể đồng nhất với chính chúng, mà ẩn chứa ý nghĩa khác với chính chúng. Do đó, chúng phủ định với chính chúng, khác biệt với chính chúng và phát huy tác dụng ngay cả khi ở dưới dấu xóa (erase). Derrida nói về việc sắp đặt để làm việc trong phạm vi văn bản lịch sử triết học của thuật ngữ “bất khả quyết”. Thuật ngữ này đã không còn nằm trong phạm vi đối lập triết học, kháng cự và phá rối, chưa bao giờ là thuật ngữ thứ ba, chưa bao giờ có chỗ cho một giải pháp hình thức của suy đoán biện chứng. Vì thế, kẻ đứng mũi chịu sào (pharmakon) chẳng phải phương thuốc hay độc chất, không thiện chẳng ác, không nói mà cũng chẳng phải viết không này chẳng nọ, đồng thời với này hoặc nọ (positions).

Phan Bien trích dịch.

Advertisements

4 Responses to Đạo của sự khác biệt

  1. vienhanlam says:

    Xin lỗi PhanBien vì đã chỉnh sửa tiêu đề của bài viết từ chữ in (hoa) thành chữ thường. Tôi có một số nguyên tắc về chính tả, mong PhanBien thông cảm!

    Tôi cho rằng giá trị của bài viết nằm ở nội dung, tức thông điệp truyền tải, chứ không phải nằm ở hình thức, cách thức trình bày hay một vài ngôn từ đắt đỏ. Giá trị học thuật cao thường nằm trong những bài viết bình dị, chứ không phải ở các bài viết được tô điểm quá màu mè.

    Tôi trọng cái cốt kiêu không trọng cái dáng kiêu. Cũng như con người, giá trị của chúng ta nằm ở tư tưởng, ở trí tuệ chứ không nằm ở quần áo hay mấy thứ đồ bạc vụn.

    Đến bây giờ người ta chỉ quan tâm đến những phát biểu của Không Tử, chứ không quan tâm xem ông ta có mấy con ngựa, hoặc thắc mắc xem Khổng Tử và Lão Tử ông nào giàu hơn.

    Trân trọng!

    • phanbien1 says:

      Tôi phải cảm ơn ông bạn mới đúng chứ. Do tôi bị cận mà chính tôi cũng không biết là mình cận, cho đến khi tôi đeo thử một chiếc kính cận… Nhưng tôi không quen đeo kính, tuy nhìn rõ nhưng vương vướng thế nào ấy… Khi dịch thì tôi phải phóng to từng đoạn lên, sau đó rút nhỏ lại thấy nó như…đàn kiến vậy. Chữ như thế này thì chuẩn rồi, khá quen thuộc với truyền thông…

  2. phanbien1 says:

    Tôi thấy đạo Khổng thực ra cũng mong muốn mang đến điều tốt đẹp cho xã hội. Tuy nhiên khi những danh xưng và kèm theo đó là quyền lợi thì đạo Khổng đã trở thành phương tiện của một số người, chỉ một số người thôi cũng đủ khuynh đảo xã hội. Xưa nay người ta cứ phải tranh luận với nhau “Thế nào là thế nào?”. Rồi đến lượt Lão – Trang cũng thế, đó cũng có thể trở thành phương tiện để biện minh cho quyền lợi của một số người. Tất cả các học thuyết rồi cũng trở thành phương tiện của con người. Đó cũng là thực trạng của xã hội hiện nay. Người ta chen nhau học tập, chen nhau danh lợi đều dùng các phương tiện là tri thức của con người. Tuy nhiên vẫn còn một sự khác biệt là: trong xã hội hiện nay vẫn còn có môi trường để mọi người có thể hay có quyền bày tỏ quan điểm của mình. Liệu bạn hay tôi có phụ thuộc hay có định kiến vào bất kỳ học thuyết nào không? Mọi suy diễn của tôi đều đưa đến khái niệm về một xã hội đa xu hướng chứ không thể đơn hướng để loại trừ nhau, tạo những cơ hội và chọn lựa chứ không thể độc đoán chuyên trị.

  3. vienhanlam says:

    Muốn là một nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên, người ta không những phải thắng được sự cô độc, mà còn phải thắng được hư vô chủ nghĩa.

    Khi chúng ta hiểu nghĩa của từ ngữ, bằng cách tìm về “gốc” của chúng – tức chúng trỏ tới vật-việc trong thực tế – sẽ làm chúng ta hiểu bản chất của cuộc sống. Việc cho rằng những tính từ tốt/xấu, đúng/sai chỉ là tương đối, thậm chí vô nghĩa dễ dẫn đến cho luôn cuộc sống là vô nghĩa.

    Trên con đường tìm đến chân lý, ta không tránh khỏi việc ‘đụng độ’ hệ quan niệm của mình với các ‘kỳ nhân dị sỹ’. Đụng độ không phải là để triệt thoái mà là để bổ sung cho nhau, cùng nhau phát triển.

    Nghiên cứu về thực tại và bản chất của sự tồn tại thì chúng ta đã có riêng một ngành – bản thể luận. Nếu không hiểu nghĩa của từ ngữ, thì một lý thuyết hay một hệ tư tưởng sẽ chỉ là sáo rỗng.

    Năm 19 tuổi, khi tôi nhìn thấy sự vô biên của vũ trụ, sự hữu hạn của cuộc sống loài người, ngắn hơn là cuộc sống của mỗi người. Tôi đã rơi vào hư vô chủ nghĩa. Rằng ta sống hay chết thì rồi tất cả cũng chỉ là vô nghĩa. Việc sinh ra, tồn tại và chết đi của mỗi người, thậm chí cả loài người rồi cũng sẽ là vô nghĩa. Rồi ai sẽ nhớ đến ta, đến chúng ta. Kể cả là ai đó có khắc tên mình ở trên đời. Liệu 10 ngàn năm nữa người ta có nhớ đến Khổng Tử? Thậm chí ngay bây giờ nhiều người cũng không biết Trang Tử là ai.

    Năm đó tôi chưa nhận ra thời gian chỉ là một trục tưởng tượng. Quan niệm về thời gian đã từng là điều mà tôi trăn trở nhất khi công bố lý thuyết của mình. Liệu khi mọi người thấy được thời gian là đại lượng không có thực, rằng chân của cuộc sống này là vô nghĩa, thì liệu họ có sự mất phương hướng hàng loạt. Ta sống hay chết thì rồi cũng vô nghĩa thì ta sống làm gì?

    Quan niệm của tôi về thời gian – mặc dù Kant đã nói từ rất lâu rằng thời gian chỉ là một trục do con người tạo ra để đánh dấu những việc mình làm – là thời gian không có thực. Đó chỉ là một đại lượng tưởng tượng – tồn tại trong ý niệm con người – mà thôi. Thời gian sống khi gắn liền với sự vận động của một vật, hệ vật. Trong đó một loại năng lượng đang giải phóng.

    ***

    Trong lập trình hiện đại – lập trình hướng đối tượng – người ta gom các dòng lệnh vào các một khối – gọi là các đối tượng, và việc chúng làm được gọi là hành vi của chúng. Ví dụ hàm cộng hai số, ta chỉ cần nhập vào hai số, máy tính sẽ hiển thị ra kết quả. Vậy một khối lệnh (modul) là một đối tượng, giống như hai số ta nhập vào vậy.

    Ngoài cuộc sống ta có các thực thể (đối tượng) như: học sinh, hành vi của chúng là học tập, vui chơi… Cao hơn là những từ trừu tượng: tâm hồn, tình yêu… Và hành vi của chúng là các hành động, các thể hiện hay biểu hiện, không phải là tính chất của chúng – tốt hay xấu. Vậy tốt hay xấu là các tính từ, không phải danh từ – các đối tượng hay các hành vi. Một tâm hồn chỉ cao đẹp khi các hành động của tâm hồn này cao đẹp.

    Tốt và xấu chỉ là tính từ dùng để đánh giá. Về lý thuyết, sẽ có những tâm hồn không tốt không xấu. Đó không phải là bản thể của cuộc sống. Tính từ không phải là bản thể của cuộc sống, mà là các hành vi. Bản thể của cuộc sống là các hành động. Chúng ta sinh ra để hành động, vậy hãy cứ hành động, đừng lo lắng về về sự vô nghĩa!

    Không phải là chỉ hành động mới làm cuộc sống của chúng ta có nghĩa – theo quan niệm của một số người. Ta thấy tự nhiên luôn vận động (hành động) bất chấp quan niệm của con người về ‘nó’ như thế nào. Tự nhiên luôn sôi động và cũng rất lạnh lùng. Chúng ta chỉ là một phần của ‘nó’ mà thôi. Dù đối với các loài khác (động, thực vật), chúng ta có thể được coi gần như Chúa.

    Lão Tử từng nói “nước chảy chỗ trũng”. Newton khoa học hơn cho rằng “quả táo rơi xuống là do trái đất hút”. Nhưng hai ông sẽ nói sao với “Quả bóng bay oxi bay lên”? Có vẻ phải cần đến Acsimet? Lò xo bị nén lại, dãn ra cần đến Huc… Với các hiện tượng (sự việc) này – trong phạm trù khoa học – tầm quan trọng của các ông ấy là ngang nhau.

    Chúng ta có từ ‘cây’ khi trong tự nhiên có những cái cây, và chúng ta nhìn thấy chúng. Nhưng liệu chúng ta đã nhìn thấy chúng đúng như chúng đang có? Người cận thị, sau khi đeo kính, nhìn thấy cái cây là xanh hơn. Chúng ta phải dám và muốn nghi ngờ! Người nào rơi vào sự nghi ngờ, người đó là nhà nghiên cứu. Bởi bản chất của anh ta là nhà nghiên cứu, và ‘nó’ sẽ thôi thúc anh ta hành động.

    Trước khi nghiên cứu khoa học tự nhiên (các quy luật của tự nhiên) – người ta cần nghiên cứu triết học (các quy luật của tự nhiên và xã hội). Vì điều trước tiên khi muốn nghiên cứu là phải tạo cho mình một tập quan niệm riêng, một lý thuyết riêng, và quan trọng nhất là một bản lĩnh vững vàng.

    Quay lại với bài, các quan niệm về giải cấu trúc của Trang Tử, trước kia thầy của ông – Lão Tử – đã từng nói. Đây là một trong các hệ tư tưởng của nhân loại. Tại sao có nhiều phe phái, nhưng hai phe Khổng-Lão lại trội hơn hẳn trong các hệ tư tưởng Trung Hoa. ‘Nhập thế hành đạo’ và ‘xuất thế vô vi’ là hai lựa chọn chủ đạo của các nho sĩ thời ấy. Thực ra, đó là hai mặt đối lập trong tâm hồn mỗi người. Dù cũng có phái vừa phải – Trung Dung.

    Lan man một chút sang một cuộc đấu tranh khác, hiện tại có cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa phe CNXH và phe CNTB. Điểm khác nhau về cơ cấu tổ chức chính trị tôi không nói, mà tôi bàn về sự khác nhau về cách quản lý xã hội – tức hình tức tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm.

    CNXH đưa ra đề xuất về việc tổ chức sản xuất tập trung và theo kế hoạch: địa phương này trồng cây gì, nuôi con gì; thời gian này trong năm và các năm làm gì… Phân phối thì theo nguyên tắc công bằng ở tầm vĩ mô. Những người trong cùng một giai cấp, làm cùng một công việc được hưởng phúc lợi như nhau. Cao hơn một chút là CNCS, với quan niệm là theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.

    CNTB cho rằng đó là sự cào bằng, không phải là công bằng nữa. Cứ để cho mọi người tự do sản xuất, tự do phân phối sản phẩm. Thị trường sẽ tự điều tiết. Tự các chủ thể kinh tế sẽ biết phải làm gì. Trong quá trình tìm kiếm lợi ích cho mình, các đối tượng tạo ra lợi ích cho toàn xã hội. Tất nhiên, ở đây không còn có chuyện hết mình cho lợi ích tập thể. Vấn đề của CNTB là họ không kiểm soát được sự tham lam. Vẫn cần có một bàn tay hữu hình để điều tiết nền kinh tế. Ngày nay, các tập đoàn ảnh hưởng đến quần chúng không kém gì các quốc gia.

    Cũng như hai triết lý Khổng-Lão, là hai mặt trong tâm hồn của các nho sĩ, hai tư tưởng CNXH và CNTB cũng là hai mặt trong cuộc sống của mỗi người hiện đại. Cụ thể như những công chức làm kinh tế luôn phải lựa chọn giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân. Về lý trí, người ta luôn muốn trốn các loại thuế, tối đa hóa lợi ích. Nhưng vì lòng trắc ẩn – về trách nhiệm với cộng đồng – đôi lúc họ cảm thấy có lỗi.

    Như trên đã nói, bản chất của thế giới tự nhiên là sự vận động. Vậy mỗi đứa trẻ sinh ra là phải hay là quấy? Theo ‘quy luật xã hội’, thì chúng là quấy (các giá trị đạo đức), còn theo ‘quy luật tự nhiên’, chúng là phải (bản chất chúng nghịch ngợm). Vì chúng là quấy theo ‘quy luật xã hội’, nên xã hội sinh ra những thước đo để đưa chúng vào quy củ.

    Tôi cho rằng việc lựa chọn sống theo nguyên tắc của các giá trị đạo đức là điều có ý nghĩa nhất trong đời sống của mỗi người, cũng là có ý nghĩa nhất trong cuộc sống loài người, khi ta phải đối diện với sự vô biên của vũ trụ, sự vô hạn của thời gian. Nếu ngày mai có phải chết, thì chiều nay tôi vẫn quét sân trước nhà tôi.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: