Nghĩa hiện nay của từ “trí thức”

Từ “trí thức” xuất hiện năm 1906 với nội hàm mới, đủ phân biệt với những từ ngữ vẫn quen dùng trước đó. “Trí thức” xâm nhập Việt Nam từ ngót trăm năm, đến nay nghĩa gốc có nhiều thay đổi. Đại thể, có hai hướng lớn.

Nghĩa ban đầu

Intellectuel (tiếng Pháp) hay intellectual (tiếng Anh) trong từ điển vốn là một tính từ, còn danh từ gốc của nó là intellect (trí  tuệ, trí thông minh).

Nhưng một văn bản kháng nghị công bố năm 1906 – do nhà văn Zola ký tên đầu – lại được thủ tướng Pháp Clemenceau (tiến sĩ, nhà báo) gọi là Tuyên ngôn của Trí thức (Manifeste Des Intellectuels).

Thế là một tính từ trở thành danh từ mới, chưa hề có trong các từ điển lớn trước đó như Larousse 1866-1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1885-1902. Ngay sau đó, thế giới đã chấp nhận một từ ngữ mới.

Đó là bản kháng nghị nổi tiếng, của các nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng, chống lại một bản án oan cũng nổi tiếng là xấu xa trong lịch sử tư pháp (xử đại úy Dreyfuss, sau gọi là “Sự kiện Dreyfuss”).

Trên thực tế, các tác giả của bản kháng nghị đã bị chính quyền chỉ trích, phân biệt đối xử, hăm dọa, kể cả tù đầy, nhưng không nao núng, mà vẫn theo đuổi sự việc tới cùng. Nay gọi là dấn thân.

Như vậy, danh từ “trí  thức” ra đời nhân một sự kiện chống bất công nói riêng và chống mọi bất cập của xã hội nói chung.

Từ đó, một người có học vấn cao sẽ được mang danh “trí thức” nếu ông ta sẵn sàng tạm bước ra khỏi lĩnh vực chuyên sâu của mình để lên tiếng – với lập luận vững chắc – về những bất cập xã hội, với động cơ không vụ lợi. Nay gọi là phản biện.

Sau 100 năm, nghĩa gốc bị thay đổi

Từ rất lâu trước khi có từ “trí thức”, xã hội đã sử dụng nhiều từ tôn vinh dành cho những người có học vấn uyên thâm, làm nghề sáng tạo: nào là học giả, nhà văn, nào là nghệ sĩ, nhà khoa học…

Đó là bước tiến lớn khi xã hội nhận ra các sản phẩm tinh thần ngày càng đặc trưng cho văn minh nhân loại.

Từ “trí thức” xuất hiện năm 1906 với nội hàm mới, đủ phân biệt với những từ ngữ vẫn quen dùng trước đó… Để được gọi là trí thức, điều kiện “cần” là làm nghề sáng tạo các giá trị tinh thần; còn điều kiện “đủ” là phản biện xã hội – để xã hội tốt đẹp thêm.

“Trí thức” xâm nhập Việt Nam từ ngót trăm năm, đến nay nghĩa gốc có nhiều thay đổi. Đại thể, có hai hướng lớn:

– Một hướng cố giữ nguyên nghĩa: tuy chỉ thoi thóp, bị chìm lấp, nhưng khi cần thiết và gặp hoàn cảnh thuận lợi vẫn cứ bùng lên – chứng tỏ nó chưa chết hẳn. Bằng chứng là cách đây 5 năm – khi mọi người thảo luận sôi nổi về vai trò trí thức – đã có những “suy nghĩ về khái niệm trí thức”. Sau đó, thêm một ý kiến khác tỏ vẻ không đồng tình (với hướng thứ hai) về sự tầm thường hóa trí thức, với nhận định “trí thức ngày càng đông, nhưng càng… không đúng nghĩa”…

– Một hướng khác, áp đảo, đã rất thành công biến “trí thức” thành một từ bao quát và gói ghém trong nó tất cả các từ cụ thể quen dùng trước đó (như: học giả, soạn giả, tác gia, khoa học gia, văn gia…). Ở mức độ cụ thể hơn nữa, ta có các từ chỉ rõ bằng cấp và nghề nghiệp của họ (ví dụ): tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc, giáo sư, nhà văn, nhà khoa học, nhà toán học… Tất cả, đều được quan điểm này coi là trí thức.

Theo hướng thứ hai, công lao của người sáng tạo từ “trí thức” rốt cuộc chỉ là đưa ra một từ chung, để gộp vào nó các từ sẵn có về giới “có học” trong xã hội.

Hướng thứ hai mạnh tới mức khuất phục được cả nhiều người soạn từ điển và soạn Nghị quyết ở nước ta. Và do vậy, cũng là ý kiến của đông đảo bạn đọc trong cuộc thảo luận đầu năm 2012. Cụ thể, số người nói giống như giáo sư toán học Ngô Bảo Châu (và như Nghị quyết) vẫn đông gấp bội số người đồng ý với giáo sư (?) Chu Hảo.

Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu

“Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã  hội như chỉ tiêu  để được phong hàm “trí thức”… giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội”. 

Nghị quyết số 27-NQ/TW (6-8-2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đã đưa quan điểm:

Trí  thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất  định, có năng lực tư  duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội. 

Giáo sư (?) Chu Hảo

Không có  tư duy phản biện, không phải là trí thức.

Sự  thuận tiện và đắc dụng

Hướng thứ hai chiếm thế  áp đảo, được xem là chính thống, vì nó đem lại nhiều cái lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Thí dụ, sự thuận tiện khi cần nói gộp. Nó giúp chúng ta gộp vào khái niệm trí thức, từ giáo sư (?) Hoàng Tụy, giáo sư toán học Ngô Bảo Châu cho tới một người thầy tốt nghiệp trường cao đẳng nay dạy Toán ở bậc trung học (cũng như trước đây rất thuận tiện khi gộp một văn hào với viên thư ký của ông ta vào giai cấp tiểu tư sản vậy).

Nó càng thuận tiện khi cần tổng kết thành tích đào tạo. Nếu – như hiện nay – coi tốt nghiệp cao đẳng cũng là trí thức, thì số lượng giới này của chúng ta đào tạo ra đã tới vài triệu – là đông đảo, hết sức phong phú.

Đương nhiên, để phát huy sức mạnh xây dựng CNXH của đông đảo trí thức, cần phải xếp họ vào đội ngũ – đúng như nghị quyết đã chỉ rõ. Nó cũng giúp chúng ta hiểu thêm một đặc trưng lớn của trí thức XHCN.

Giáo sư (?) Nguyễn Ngọc Lanh

-o|o-

Trích từ blog của tiến sĩ toán học Lê Văn Út đại học Oulu, Phần Lan

Trí thức là gì?

Theo chủ nhân blog: Gần đây, có nhiều bàn tán về trí thức là gì, vai trò của trí thức, v.v. Tôi nghĩ tôi cần học thêm về vấn đề này. Có mấy bài đáng suy ngẫm nên tôi lưu lại để học hỏi.

“Kẻ nào không tham gia vào việc công thì phải là súc vật hay thần thánh!”  – Triết gia Aristotle.

“Trí thức là những người có sự hiểu biết và biết thức tỉnh xã hội” – Giản Tư Trung.

“Người trí thức là người không để cho xã hội ngủ” – Giáo sư (?) Cao Huy Thuần

Theo giáo sư (?)  Đào Tiến Thi, có bốn hạng trí thức trong xã hội Việt Nam ngày nay.

Hạng 1, là những người “trí thức thứ thiệt”, đau đáu với vận mệnh đất nước quê hương và sẵn sàng dấn thân, cho dù họ không được lòng của giới cầm quyền.

Hạng 2, là những người cũng quan tâm đến đất nước và dân tộc, cũng bức xúc trước những bất cập của xã hội, nhưng họ không dám dấn thân; Thay vì dấn thân, họ co rút trong cái không gian và môi trường nhỏ bé là gia đình.

Hạng 3: là những người không màn đến các vấn đề xã hội dù cũng có chút hiểu biết về chính trị, nhưng họ không lên tiếng, không có hành động, mà thay vào đó là thái độ xu nịnh và lo làm ăn vì quyền lợi kinh tế cá nhân; Họ là những người thiếu lập trường, không có niềm tin, nhưng lại rất hãnh diện về những học vị và học hàm (có thể là dỏm hay mua bán) của họ.

Hạng 4″ là những người cũng thông minh, nhạy cảm với thời cuộc, và sử dụng thông minh của mình để dèm pha người khác; họ là những con buôn chính trị.

“Nhưng theo cách hiểu của tôi thì chỉ có hạng 1 là những người trí thức thật sự, còn hạng 2, 3 và 4 thì ngụy trí thức là đúng hơn” – Giáo sư (?) Nguyễn Văn Tuấn.

“Trí thức là người có tầm nhìn đứng cao hơn tầm nhìn chuyên môn của một chuyên viên” – Giáo sư (?) Nguyễn Quang Minh.

“Xuất phát từ thái độ trân trọng những lo âu dằn vặt của người khác, đặc biệt của những tấm gương khả kính, tôi xin bầy tỏ thái độ trân trọng đối với những vị đã gợi ý câu hỏi “trí thức là gì?” – Giáo sư (?) Phạm Việt Hưng.

“Nhưng gạt bỏ (việc bàn về khái niệm trí thức – NV) để khuyên người khác là nên chuyên tâm vào những việc khác (như những việc đại sự của các nhà có tầm vóc đã làm) và cho là các người (bàn về khái niệm trí thức – NV) là làm chuyện “bánh vẽ” thì tôi cho là trẻ con (nhẹ) hay khinh người, fascist học thuật (nặng)” – Giáo sư (?) Nguyễn Đức Hiệp.

“Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội” – Giáo sư (?) Nguyễn Huệ Chi.
“Biết bao giờ người Việt (ít ra là người Việt có học thức) mới biết tranh luận cho ra hồn” – Giáo sư (?) Phạm Quang Tuấn.

“Rõ ràng bạn không thể vừa được người ta cấp xe sang (hay tặng nhà to) lại vừa có tự do (hay công lý). Bạn chỉ có thể chọn một trong hai thứ đó. Lập luận rằng cưỡi xe BMW mới tiến được hoặc tiến nhanh hơn tới công lý (hay tự do) là ngụy biện, tự dối mình và lừa dối người khác. Đặc biệt, nếu bạn là một người lao động trí óc theo một chuyên môn nào đó, việc bạn chọn cái gì sẽ tự động xếp bạn vào hàng ngũ những ‘trí thức dự khuyết’, hay vào đám học giả xu thời đang ngày càng lạm phát trên đất nước này“ – Giáo sư (?) Nguyễn Đình Đăng.

“Tôi luôn luôn tâm niệm lời dạy của Francois Rabelais: “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme” (Khoa học vô lương chỉ là sự hư nát của linh hồn). Nói một cách dân dã thì khoa học chẳng là cái đinh gì cả nếu nó không luôn luôn tỉnh thức để đề cao lương tri. Kỳ vọng về phản biện của trí thức chẳng qua là kỳ vọng vào lương tri của trí thức, đơn giản có thế thôi. Chẳng lẽ điều đó sai ư?” – Giáo sư (?) Phạm Việt Hưng.

“Đóng góp theo kiểu người trí thức có nghĩa là dùng những khả năng mà người ta đặc biệt associate với trí thức: khả năng suy nghĩ độc lập, không để mình bị nhồi sọ hay bịt mắt, biết tự mình suy xét, khả năng tự học, tự tìm information, đánh giá và kết hợp information để có một cái nhìn đứng đắn về xã hội, tự tìm hiểu về những vấn đề của xã hội, và từ đó tự suy ra con đường phải làm gì do sự thúc đẩy của lương tâm. … Nhưng đánh đồng “trí thức” với “từ thiện” với “lao động trí óc” v.v. theo tôi, là muddled thinking” – Giáo sư (?) Phạm Quang Tuấn.

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

12 Responses to Nghĩa hiện nay của từ “trí thức”

  1. Thành says:

    Mấy hôm nay cái “nhất nguyên” đang họp. Chỉnh đốn! ‘Ăn’ quen mồm rồi, giờ chỉnh đốn không biết có chỉnh được không? Gì chứ cái ngữ ăn quen rồi là khó sửa lắm.

    Sửa lần này liệu có giống như bao lần khác? Tôi hy vọng là khác, vì sắp có biến rồi. Tháng 4,5 năm nay Israen có thể đánh Iran. Người ta còn đang lo ngại tháng 6,7 TQ có thể đánh Ấn Độ.
    TQ thì vật vã nhất với Đài Loan, sau đến ta. Hắn tăng cường quân sự vừa để mạnh, vừa để dọa nước khác. Mạnh rồi, sợ rồi, làm sao phải đánh.

    Nếu không “chỉnh” nhanh, để đến lúc có chuyện thì không phải kẻ thù đâu, chính dân ta quay lại ‘bắn’ cán bộ trước. Tôi đã nghe rất nhiều người nói ở các trường học, cơ quan, quán nước rằng nếu bây giờ Mỹ sang, tôi theo ‘nó’ liền. Tôi không thích vậy!

    Với tôi, hai cuộc chiến trước đây – và các cuộc chiến giữ nước trước kia – là chính nghĩa. Sự hy sinh là thiêng liêng, và niềm tin sẽ bất diệt. Những người đã ngã xuống đó đều là những người chân chính. Và nếu ai muốn gọi đó là nội chiến, thì ý kiến của tôi là: tôi tôn trọng cả hai phe.

    Tôi buồn cho cái đất nước – dài dài cong cong – hình chữ S này. Số kiếp nhược tiểu, lại nằm ở vị trí nhạy cảm. Lòng người bất nhất, bất ổn triền miên… Giờ người ta đang “chỉnh” đốn. Hãy chờ xem…!

    • Phanbien1 says:

      TQ sẽ không đánh Ấn đâu, và sẽ không ra đòn trước. Với đòn giương Đông (tức Biển Đông) thì kích Tây của họ là những sân bay ngầm nhằm chống trả lại các đòn tấn công vào lãnh thổ của mình. Chiến tranh Israel-Iran có nổ ra thì TQ cũng chỉ thể đứng ngoài cuộc thôi. Tuy rằng sĩ diện cường quốc cũng khiến họ ra oai bênh vực. Thậm chí TQ còn mong cho Iran sớm đầu hàng để lại mua dầu dù với cái giá cao hơn đi chăng nữa, còn hơn là mất trắng khi lao vào chiến tranh…

      Còn VN thì nếu có biến thì ai cũng biết là thành phần nào sẽ có “ưu thế” hơn trong việc “hàng Mỹ”…

      • Thành says:

        Cũng đúng! TQ giờ không có đồng minh. Liên minh Xô-Trung xưa, nay là Nga-Trung luôn là ‘đồng sàng dị mộng’. Xưa nay cuộc chơi tay ba Nga-Trung-Mỹ luôn là nguyên nhân cho những biến động ở Châu á. TQ khi thì nghiêng về Mỹ, khi thì ngả về Nga, ưỡn à ướn ẹo nên bên nào cũng ghét. Nga với Mỹ thì chưa bao giờ đứng về một bên để chống TQ cả. Tôi thấy khá giống bộ ba trong Tam quốc chí. Khối bắc Đại tây dương có lẽ sẽ lũng đoạn chính trường nhiều năm nữa.

        Phía đông của TQ là Nhật Bản, Hàn Quốc. Đông nam là Đài Loan, còn chính nam là Biển Đông (Nam Sa) và Việt Nam. Chiêu bài khôn khéo của TQ có lẽ là biến mình thành công xưởng của thế giới. Rất nhiều các tập đoàn lớn đặt nhà máy ở TQ. Giờ các nước lớn đánh TQ, khác gì đánh chính mình.

        Mỹ chợt tỉnh giấc! Trong thông điệp liên bang và cũng là cương lĩnh tranh cử vừa qua, tổng thống Mỹ yêu cầu khôi phục sản xuất công nghiệp, ưu tiên những công ty giữ việc làm trên đất Mỹ. Đó sẽ là một lời kêu gọi về nước của những số tiền đầu tư lớn. Đó cũng là lời kêu gọi người dân Mỹ hãy tỉnh giấc. Bữa tiệc hết rồi, hãy quay lại với thực tế khó khăn, chấp nhận đồng lương thấp hơn và ít tiêu sài đi.

        Châu âu hiện đang quẫn bách với nạn nợ công của họ. Người Mỹ thì đã tỉnh giấc. Sẽ có ít người tiêu sài hơn, sẽ ít có người nhập hàng của TQ, Nhật Bản… Nền kinh tế của nhật đã đứng yên đến 15 năm nay rồi. TQ giờ đang hạ cánh mềm, con số $ phát triển sẽ không còn như mong muốn nữa. Lượng tư bản thời gian vừa rồi lại chủ yếu rơi vào một bộ phận nhóm lợi ích của TQ. Đa số người dân TQ không có nhiều tiền để tiêu sài. Nhóm lợi ích hưởng đặc quyền đặc lợi kia thì dùng toàn đồ hiệu của thế giới. Giờ vừa hợm hình, vừa khôn ngoan, người TQ mang tiền đi đầu tư khắp thế giới.

        Nếu không tạo ra được sự công bằng xã hội, nếu thành quả phát triển không đến được với đa số mọi người, nếu TQ không tự biến mình thành một thị trường tiêu dùng, nếu không quay lại được với thị trường nội địa… TQ sẽ đổ vỡ! Chắc chắn sẽ đổ vỡ! Tôi không cần tính đến các yêu tố xã hội như chênh lệch giàu nghèo, những đối kháng tiềm ẩn, tham nhũng hay bong bóng bất động sản. Đối phương của TQ chỉ cần hạn chế nhập hàng, hay tạo ra chiến tranh khí hậu, mất mùa, dịch bệnh là TQ sẽ loạn.

        Những mâu thuẫn xã hội xưa nay vẫn lắng xuống – do người dân bị đè nén, và cũng thấy tạm ổn với cuộc sống của mình – sẽ vỡ òa ra, bùng nổ! Khi ấy cả TQ là một khối bom. Chính người TQ sẽ đánh lẫn nhau chứ chẳng có kẻ thù ở đâu xa xôi cả. Những công ty đầu tư vào TQ không chỉ để lấy lời. Họ còn cấy vào trong đầu tầng lớp trung lưu TQ sự bất mãn, sự bức xúc với chế độ. Và chính những người này, chính giai cấp này mai kia với là lực lượng nòng cốt, dẫn đầu yêu cầu đòi có sự thay đổi. Không phải giai cấp công nhân xưa nay vẫn thật như đếm đâu.

        TQ không đánh nước nào đó để chiến thắng, để giữ đất… Họ đánh để hướng dư luận vào đó. Để răn đe trong nước, để củng cố tay chân, bè cánh. Tôi là một người yêu hòa bình. Nhưng chúng ta đều thấy hàng nghìn năm nay, hòa bình chỉ là thời điểm chuẩn bị cho chiến tranh. Tôi nói điều này nghe có vẻ quá đáng, nhưng thế giới đã quá chật chội và mệt mỏi với những mâu thuẫn rồi! Người ta đã chán ngấy những tuyên bố hùng hồn mà sáo rỗng. Và 7 tỷ người là quá đông so với sô tài nguyên, năng lượng của trái đất. Có lẽ đã đến lúc phe diều hâu vào cuộc. Có lẽ đã đến lúc cần một cuộc chiến để kết thúc mọi điều giả dối. Để sắp xếp ra một trật tự mới, cho dù có thế nào thì cũng ‘thật’ hơn hiện tại. Tôi chắc chắn sẽ có một cuộc chiến, vấn đề chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

        -o|o-

        Về nội tình VN… Chơi với Mỹ không đơn giản đâu. Chơi với Mỹ là phải nghe Mỹ! Mỹ có thể cho tiền, có thể bao hết… Nhưng phải nghe Mỹ. Phải tuân theo những giá trị Mỹ. Giả như bộ sậu của ta có ngả theo Mỹ (nghe nói đang có hai phe) thì đúng là có một số đặc quyền đặc lợi. Những kèm theo đó là những điều kiện vô cũng phức tạp. Khi không còn nắm được thực quyền, thì mọi vấn đề đều có thể xảy ra. Đêm dài lắm mộng. Tôi tin rằng bộ sậu ta biết – và ý thức rất rõ – điều đó.

        Nếu họ không thay đổi để cứu chính mình, thì cũng sẽ không cứu được đất nước. Bởi đâu phải cứ để nước đến chân mới nhảy? Khi ấy thì không chỉ họ chấm dứt nhiệm vụ lịch sử, mà còn đẩy đất nước vào một thời kỳ đen tối. Tự cứu mình không phải là mua vũ khí, mua cung tên, mua giáp… Mà tự cứu mình thì trước hết phải chữa bệnh cho thân thể tàn tạ, ốm yếu… Bởi khi vào trận thì chính những căn bệnh đó sẽ là kẻ thù của ta. Rồi cũng chính bộ áo giáp đắt tiền – với sức nặng của nó – sẽ làm khó cho ta mà thôi.

  2. Thành says:

    Hôm vừa rồi tôi có xem lại một chương trình về kinh tế trên tivi, đó là một buổi thảo luận về nợ công của chính phủ. Biên tập viên mời một số chuyên gia và nhà quản lý đến để trao đổi. Hôm đó có bà Chi Lan, bà nói:
    – Bộ tài chính đưa ra số nợ công là 42% GDP, nhưng Ngân hàng châu Á đưa khác, các tổ chức xếp hạng uy tín cũng đưa ra những con số khác… Thú thật chúng tôi chẳng biết đường nào mà lần. Chẳng biết căn cứ vào đâu để hiểu được điều gì thực sự đang diễn ra ở nước ta?

    Ông cán bộ quản lý của nhà nước ngắt lời (vì phát biểu của bà Lan đang ngầm ý ‘chất vấn’ ông này) và nói:
    – Tôi là một người theo “chủ nghĩa duy vật”. Những gì tôi tuân theo là những thứ được cơ quan nhà nước công bố. Con số 42% trên là của Bộ tài chính, vậy chúng tôi sẽ sử dụng nó để làm việc. Và chúng tôi sẽ lấy một con số khác, khi có một đơn vị ‘lớn hơn’ công bố, sau khi tổ chức một cuộc điều tra toàn diện vì cho rằng con số 42% đó là không xác tín.

    Tôi kể ra câu chuyện này chỉ để lấy bốn từ: “chủ nghĩa duy vật” mà ông cán bộ nhà nước nói ra. Hiểu theo nghĩa thông thường, chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa mà những ai đi theo sẽ chỉ tin vào những điều có thật, vật thật, việc thật, chứng cứ thật, mắt thấy tai nghe… Chủ nghĩa này đối nghịch với chủ nghĩa duy tâm – là chủ nghĩa mà những người đi theo có thể tin cả vào những điều không có thật.

    Triết học Mac dùng phương pháp lý luận là “duy vật biện chứng”. Đây là phương pháp mà khi người ta lý luận về một quá trình nào đó, người ta chỉ dùng đến những “chứng cứ” có thật để biện luận, biện bạch…

    Vậy điều ông cán bộ nhà nước nói bên trên thật là ngớ ngẩn. Ông ta đang làm việc chứ không phải ông ta đang lý luận. Nghĩa là con số 42% kia là con số ông ta cần đến để làm việc chứ không phải để lý luận. Lý luận quái gì ở đây?

    Đáng lẽ ông ta nên nói đại loại như:
    – Chắc chỉ hiểu, là cán bộ nhà nước, chúng tôi phải làm việc theo nguyên tắc. Mà nguyên tắc ở đây là chúng tôi phải sử dụng những số liệu chính thống – được Bộ tài chính công bố công khai – để tính toán khi làm việc. Các số liệu khác chúng tôi có tham khảo – thậm chí tham khảo cả cách tính của họ – nhưng chỉ để hiểu thực sự họ đang nghĩ gì, và đang nhìn chúng ta như thế nào mà thôi.

    Câu trả lời này sẽ cho thấy ông ta nhận thức được đúng vấn đề, và các cơ quan nhà nước đang hoàn toàn kiểm soát được tình hình. Rõ ràng ông ta không hiểu rằng: ông ta làm việc khác và ông ta ngồi lý luận với bà Lan khác. Có ai làm việc mà cần đến “chủ nghĩa duy vật” không?

    • Phanbien1 says:

      Dễ thấy rằng đối tượng khách quan trong câu của ông nọ – tôi là người theo chủ nghĩa duy vật – không phải là khách quan về mặt số liệu.

      Đối tượng khách quan trong câu nói của ông ta là Bộ tài chính đấy thôi.

      • Thành says:

        Tôi không nói về khách quan hay chủ quan, mà tôi nói về việc lựa chọn phương pháp lý luận trong khi lý luận. Bàn về việc này hơi lãng xẹt! Nhưng tôi đưa ra, tôi sẽ nói cho rành mạch vấn đề này.

        Cuộc thảo luận này bàn về nợ công của chính phủ và cân nhắc xem số nợ đó có ở trong mức an toàn hay không. Bộ tài chính là cơ quan có thực, và con số 42% là họ đưa ra, sao tôi dám nói những thứ đó là không khách quan. Thậm chí hơn cả khách quan, chúng còn rất thực tế.

        Chủ nghĩa duy vật – hay phương pháp lý luận duy vật biện chứng – là dùng những bằng chứng xác thực để làm căn cứ khi lý luận về một vấn đề. Vấn đề của ông ấy ở đây là quá trình làm việc. Quá trình làm việc của ông ta diễn ra như sau: Nợ bao nhiêu? –> 42% GDP –> Tính toán xem 42% đó có an toàn hay không?

        Ông ta dùng phương pháp lý luận của chủ nghĩa duy vật cho trường hợp này. Ok! Vậy ta sẽ bàn về chủ nghĩa duy vật:

        “Chủ nghĩa duy vật là một hình thức của thực hữu luận với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất; rằng về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất.
        Khoa học sử dụng một giả thuyết, đôi khi được gọi là thuyết tự nhiên phương pháp luận, rằng mọi sự kiện quan sát được trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân tự nhiên mà không cần giả thiết về sự tồn tại hoặc không-tồn tại của các thế lực siêu nhiên”.

        Khi dùng ‘phương pháp lý luận’ của ‘chủ nghĩa duy vật’ để lý luận cho ‘quá trình tính toán’ xem có số 42% kia có an toàn hay không – sâu xa mà nói – là ý ông ta muốn nói rằng: việc tính toán của các ông ấy là đúng đắn, bởi dùng con số 42% được đưa ra bởi Bộ tài chính. Và mục đích cuối dùng là để khẳng định là nợ ở con số 42% là an toàn. Đất nước ta còn an toàn.

        Dù các thông tin cho thấy tỷ lệ tăng của nợ là gần gấp đôi trong vài năm gần đây. Tiền vay trong ba năm gần đây gần bằng tổng số tiền vay trong 15 năm trước. Và việc đầu tư thiếu hiệu quả (dàn trải, thất thoát) số tiền đi vay dẫn đến khó trả nợ – cả vốn và lãi – hàng năm.

        Tiếp theo về chủ nghĩa duy vật…
        “Với vai trò một học thuyết, chủ nghĩa duy vật thuộc về lớp bản thể học nhất nguyên. Như vậy, nó khác với các học thuyết bản thể học dựa trên thuyết nhị nguyên hay thuyết đa nguyên. Xét các giải thích đặc biệt cho thực tại hiện tượng, chủ nghĩa duy vật đứng ở vị trí đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm”.

        Vậy đối nghịch với ông ta – bà Chi Lan – sẽ là duy tâm? Những con số do các tổ chức khác đưa ra là duy tâm? Không phải! Người ta cũng có thực, cũng tính toán thực vậy con số đưa ra cũng phải thực chứ? Ta có thể nghi ngờ những số là thiếu chính xác, nghi ngờ uy tín của họ. Nhưng cho rằng những con số đó là duy tâm, “đối nghịch” với con số 42% là không đúng. Hay ông cho rằng con số họ đưa ra là con số ảo? Cũng không phải! Nợ công của chúng ta là thật: vay thật, nợ thật, làm sao mà ảo được. Bảo bà Lan theo chủ nghĩa duy tâm? Không đúng!

        Vấn đề được tóm tắt như sau:
        1. Chính phủ ta nợ công (vay tiền nước ngoài để chi tiêu công).
        2. Các cơ quan, tổ chức đưa ra các con số khác nhau – Bộ tài chính là 42% GDP.
        3. Cơ quan của ông kia cần tính toán con số 42% là an toàn hay không?
        4. Ông ta là người theo “chủ nghĩa duy vật” nên ông tin vào con sô 42% kia, lấy đó làm căn cứ tính toán.
        5. Còn những người khác, lấy các con số khác sẽ là duy tâm?

        “Cơ quan nhà nước phải làm việc theo nguyên tắc, mà nguyên tắc ở đây là phải sử dụng các con số chính tắc khi tính toán”.

        Ông ta không hiểu bản chất “phương pháp lý luận của chủ duy vật cho một quá trình” (duy vật biện chứng), nên đã “mang dao phay đi mổ con muỗi”. Cán bộ nhà nước không hiểu ‘nguyên tắc làm việc’ của mình phải căn cứ vào những gì, như thế tôi cho là chưa đủ nhận thức để làm cán bộ.

        • Phanbien1 says:

          Tôi hiểu ý ông bạn… Ông quản lý kia nếu đúng là nhà duy vật biện chứng thì ông ta phải nghiên cứu đối chiếu tất cả những phương pháp đã đưa đến những số liệu khác nhau. Tôi biết thế nào là “nhất nguyên” và việc “chi tiêu dàn trải”. Cái “nhất nguyên” đó luôn “dũng cảm” nhận lấy trách nhiệm không đáng có, thay vì phải chia sẻ trách nhiệm đó. Và cũng thay vào đó “nhất nguyên” lại hay chia sẻ ơn nghĩa. Nghĩa là khi người ta sắp chết thì lại ban cái ơn nghĩa cứu giúp… Thà chịu lỗ để giữ tiếng !?

  3. phanbien1 says:

    – Điều kiện cần: trí thức phải có tư cách xã hội.
    – Điều kiện đủ: trí thức phải có phản ứng phản biện, tức phê phán.

    Nếu tôi có thể phản biện thì tôi có điều kiện đủ và mặc nhiên tôi là người trí thức, cho dù tôi chưa đủ tư cách xã hội.

    • Thành says:

      Cũng không hẳn…

      + Thứ nhất: ai cũng có thể phản biện. Không nhất thiết phải là trí thức mới ‘được’ phản biện hoặc trí thức mới phản biện, dù thực tế phần lớn là thế. Bài viết nào cũng có thể cô đọng được lại thành một câu. Nhưng cách diễn giải và những tâm tư tác giả muốn gửi gắm đến người đọc trong một bài viết có thể làm được nhiều điều hơn một câu nói. Chí ít là điều đó làm cho người đọc hiểu người viết được nhiều hơn. Nhiều ông nông dân “cục đầu mặt” cứ bức xúc là chỉ nói được một câu. Nhưng như thế không phải là câu ấy dở.

      Theo như ý kiến của một bên trong cuộc tranh luận bên trên, thì “trí thức” phải là những người lao động trí óc, có kiến thức chuyên môn của một ngành nghề nhất định. Dùng kiến thức ấy tạo ra sản phẩm (vật chất hoặc tinh thần) có giá trị cho xã hội. Thêm nữa phải là người vượt lên được tầm tư duy trong ngành, nhìn rộng ra toàn xã hội để có những đóng góp xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. GS Ngô nghiêng về khả năng chỉ cần hoàn thành một nửa phía trước…

      + Thứ hai: phản biện không có nghĩa là chỉ phê phán. Không hiểu từ bao giờ từ phản biện (và phản cảm) được dùng rộng ngoài xã hội như thế. Trước kia nó thường được dùng khi hội đồng thẩm định ‘đánh giá’ ý kiến của mình về một luận văn, đồ án tốt nghiệp hay một công trình khoa học.

      Phản biện có thể là khen, có thể là chê, có thể là phản đối, có thể là đồng tình… Nhưng tất cả phải trên một tinh thần thiện chí và xây dựng. Phản biện không phải là để ‘dìm’ người khác xuống, mà phản biện là để đảm bảo người ‘bảo vệ’ chắc chắn hiểu vấn đề của mình, hoặc làm cho người cho người ‘bảo vệ’ thấy một góc độ mới nào đó vấn đề, và tất nhiên phản biện là cho người ‘bảo vệ’ thấy những thiếu sót trong ‘sản phẩm’ của mình.

      Về mặt tư cách xã hội mà nói, thì đa số mọi người cho rằng người trí thức là người có bằng cấp. Tức là người có học hành, tiếp thu kiến thức trong nhà trường, vượt qua một số kỳ thi mang tính yêu cầu định lượng nào đó, anh sẽ được cấp cho một cái phôi bằng nhựa, ghi nhận (xác nhận) anh có một vốn kiến thức nhất định. Có thể dùng (tin cậy) được.

      Còn ở bên trên không nói đến những điều này. Tức là sự ghi nhận những người có kiến thức – không cần biết học ở đâu, tự học hay học qua trường lớp – đang lao động bằng trí óc, có đóng góp sản phẩm hữu ích cho xã hội sẽ được coi là trí thức. Nhưng đây là sự ghi nhận của bộ máy công quyền, chứ chưa hẳn là sự nghi nhận của toàn xã hội.

      Còn có học tập, được ghi nhận qua bằng cấp nhưng không có những đóp góp thiết thực cho xã hội. Mà được gọi với hai từ ‘trí thức’ thì hãy nên xem xét lại. Xem xét ở đây không có nghĩa là tước bỏ tư cách trí thức của anh ta. Mà là nên chăng anh hãy xem lại mình, nếu có thể làm điều gì đó có ích cho xã hội thì tốt quá!

    • phanbien1 says:

      “Phản biện” có thể là cấp độ thứ ba:

      Thứ i: trí thức hoặc chính phủ đưa ra một đề án hay một chính sách.

      Thứ ii: kèm các đề án hay chính sách đó là một lời giải thích nào đó nghe có vẻ hợp lý. Dĩ nhiên là người ta đã rào trước đón sau với dư luận rồi, người trình độ thấp thì thấy rằng nó hợp lý.

      Thứ iii: đây mới là lúc để phản biện, tức tìm các bác bỏ một phần hay toàn bộ các đề án hay chính sách đó.

      Chữ “biện” đây cũng nói lên mối quan hệ biện chứng giữa các sự việc liện quan. Khi bạn phản biện thì bạn cũng cần nhiều hơn những bằng chứng có liên quan chống lại các ý kiến trên. Tôi nghĩ có ba mức độ phản biện:

      i) Chấp nhận các đề án hay chính sách một cách dè dặt vì chúng chưa thực sự hoàn thiện, chúng cần phải thuyết phục hơn.

      ii) Đưa ra các mô hình mới hoàn chỉnh hơn.

      iii) Nêu lên những tác động khác không liên quan đến các đề án hay chính sách đó, như về mặt xã hội, vế mặt quốc tế.

      (Tôi định viết một bài hoàn chỉnh nhưng thôi, sau ta lại tổng hợp lại vậy.)

  4. phanbien1 says:

    “Trí thức” có gốc là từ “tri thức”, đều là từ Hán-Việt. Tuy nhiên các từ điển Hán-Việt đều đồng nhất hai từ này, nghĩa là viết như nhau, mặc dù chữ “trí” có thêm chữ “nhật” nữa. Về mặt ngữ nghĩa thì “tri” hay “trí” đều có nghĩa là “biết” cả, song đa số trí thức VN, từ trong vô thức đều hiểu “trí thức” theo nghĩa phát sinh từ từ “tri kỷ”, là “biết nhau”. Cứ theo cung cách nói chuyện, đàm đạo theo kiểu để hiểu nhau thì mặc nhiên là “trí thức”…

    • Thành says:

      Ồ!

      Như PhanBien thấy – không phải tự dưng mà cuộc tranh luận kia ‘gay gắt’ đến vậy. Toàn là những cây đa, cây đề, cây cổ thụ cả. Điều đó cho thấy, muốn làm rõ nghĩa từ “trí thức” không phải là việc dễ dàng gì.

      Và đó chỉ mới là nghĩa của từ “trí thức” thôi. Hiện tại người ta chỉ đang tranh luận với nhau từ đó, vì nó đang liên quan đến những “vấn đề” của xã hội hiện nay.

      Tôi thì vẫn bảo lưu quan điểm cũ của mình. Tôi – cũng như bạn – hiểu theo nghĩa tượng hình của người Tàu và cách thức người ta dùng mỗi từ riêng trong cuộc sống.

      – Trí thức: từ chỉ một giới, một giai cấp trong xã hội. Tôi cho rằng hai từ này nói đến khả năng một người có thể biết, có khả năng biết, có năng lực tư duy; nhưng theo một cách thụ động. Môi trường xung quanh tác động đến họ thế nào, họ rút ra bài học, kinh nghiệm rồi từ đó thành biết và phản biện lại xã hội thế ấy. Tất nhiên là theo nghĩa tích cực, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Những người được gọi là trí thức gồm sinh viên, giáo viên, công chức, nhà khoa học…

      – Tri thức: nó mang hàm ý như là của cải, như là kiến thức nhưng về mức độ thì sâu sắc hơn (thứ ta có, thứ xã hội có). Người có tri thức là người có khả năng hệ thống những điều mình biết để tìm ra điều mới (sáng tạo) phản ánh lại xung quanh, hoặc tiên đoán thực tế, định hướng xã hội. Tức là người có tri thức là người đã đến mức độ là có “kỹ năng giải quyết vấn đề”.
      Bởi người có kiến thức chưa hắn đã có tính sáng tạo, đã giải quyết được vấn đề. Một anh sinh viên giỏi mới ra trường có nhiều kiến thức nhưng chưa hẳn đã biết cách giải quyết vấn đề. Trong cách giải quyết vấn đề thì kiến thức lại không quan trọng bằng trí tưởng tượng, hay sự sáng tạo. Cho nên người ta đề cao việc học các phương pháp…

      Như một học sinh có thể hiểu đề bài và giải được một bài toán. Nếu anh ta không nhớ phương pháp giải, một thời gian sau đưa ra bài toán đó, anh ta lại lần mò lại từ đầu. Còn người thày giáo thì giải được toàn bộ những bài toán dạng đó.

      Trong từ ghép “tri kỷ” thì tri là biết, kỉ là mình. Tri kỷ là biết mình. Tức những người biết nhau trong quá khứ. Đa số dùng cho trường hợp hiểu thói quen, cá tính, phong cách, lối sống của nhau. Chứ không dùng cho các trường hợp khác.

      Tôi biết anh trong quá khứ thì tôi biết anh hơn một người lạ. Cảm giác an toàn hơn. Dù chưa biết anh có thể thay đổi như thế nào. Tâm tính con người nói chung là đề phòng người xa lạ, những điều mình chưa hiểu… Còn những gì đã biết thì yên tâm, ít đề phòng hơn. Đỡ mệt mỏi!

      Còn việc biết nhau trong quá khứ rồi dẫn đến dễ bắt chuyện với nhau hơn, nói chuyện với nhau được nhiều hơn, mời nhau thứ này thứ khác là chuyện của bước sau.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: