Những câu đối hay trong lịch sử Việt Nam

Chơi câu đối là một sinh hoạt văn hóa rất đẹp của đất nước ta. Thú chơi này đã được nâng lên thành nghệ thuật, và tôn thêm được vẻ đẹp phong phú của tiếng Việt. Chơi câu đối giúp người chơi tăng cường trí thông minh ngôn ngữ, khả năng tổng hợp, phân tích và nhiều nhất là nâng cao vốn từ vựng tiếng Việt.

Trong kho tàng câu đối Việt Nam có rất nhiều câu đối hay, vế đối khó… Chúng được lưu giữ lại như là những giá trị tinh thần và các ‘bài toán’ khó để cho con cháu hôm nay và mai sau. Chúng tôi mạn phép tổng hợp lại như sau:

1. Câu đối thể hiện khí phách của Ngô Thì Nhậm:

Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) đỗ Hoàng giáp, làm quan đến chức Thị lang. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc Hà lần thứ nhất, ông cùng một số nhà khoa bảng khác ra cộng tác và được Nguyễn Huệ tin dùng, giao cho giữ chức Từ lệnh. Ông có công trong việc giúp vua Quang Trung đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789).

Đặng Trần Thường là một danh sĩ Bắc Hà. Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng, Đặng Trần Thường đến xin Ngô Thì Nhậm tiến cử. Trông thấy Đặng Trần Thường cứ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Ngô Thì Nhậm nói:

– Ở đây cần dùng người vừa có tài, vừa có đức giúp vua trị nước. Còn muốn vào luồn ra cúi thì đi nơi khác!

Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi mang khăn gói vào Nam phụng sự Nguyễn Phúc Ánh. Sau khi nhà Tây Sơn mất, Ngô Thì Nhậm cùng một số quan lại khác bị Gia Long bắt và làm nhục. Riêng Ngô Thì Nhậm bị Đặng Trần Thường trả thù xưa, Đặng Trần Thường đắc ý ra một vế đối bảo nếu Ngô đối hay sẽ tha cho tội chết:

“Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai”

Ngô Thì Nhậm suy nghĩ một lúc rồi dõng dạc đối:

“Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”

(Thời là từ tiếng Hán, tiếng Việt nghĩa là thì.)

Vế đối chuẩn về ý, hay về nghĩa, lại toát lên được vẻ khẳng khái của Ngô Thì Nhậm làm Đặng Trần Thường mất mặt. Sau hồi tính toán, Đặng Trần Thường cho tay chân ‘gạ’ Ngô Thì Nhậm sửa lại bảy chữ trong vế đối của ông “… gặp thời thế, thế nào phải thế”. Nhưng Ngô Thì Nhậm quyết không sửa. Đặng Trần Thường giận tím mặt, cho lính tẩm độc vào roi đánh. Ngô Thì Nhậm về nhà chết năm 1803, thọ 58 tuổi.

2. Câu đối khi đi sứ của Mạc Đĩnh Chi

Năm 1308 Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, đến cửa khẩu sai hẹn, quân Nguyên canh gác bắt phải chờ đến sáng hôm sau. Thấy sứ bộ Đại Việt cứ biện bạch mãi, viên quan phụ trách canh cửa ải thả từ trên lầu cao xuống một câu đối, thử thách sứ bộ Đại Việt nếu đối được thì họ sẽ mở cửa. Vế đối có nội dung như sau:

“Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan”

(Tới cửa quan trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường cứ qua)

Một vế đối hóc búa đến 4 chữ quan và 3 chữ quá? Mạc Đĩnh Chi thấy khó, nhưng ông đã nhanh trí dùng mẹo để đối như sau:

“Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối”

(Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin mời tiên sinh đối trước).

Vế đối của ông có 4 chữ đối và 3 chữ tiên, đúng với yêu cầu câu đối của viên quan ấy. Tưởng lâm vào thế bí, hóa ra lại tìm được vế đối hay, khiến người Nguyên phải phục và liền mở cửa ải để đoàn sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi qua biên giới.

3. Câu đối thời niên thiếu của Lê Văn Hưu:

Lê Văn Hưu là nhà sử gia đầu tiên của nước ta. Có một giai thoại kể về tuổi thơ ấu của ông như sau: Một hôm, trên đường đi học về, ông đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Người thợ rèn thấy thấy vậy ra một vế đối, nói rằng đối được mới cho dùi:

“Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt”

Suy nghĩ một lúc, cậu bé Lê Văn Hưu đối lại:

“Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đỗ khôi nguyên”

Người thợ rèn phục lăn, thích thú, bèn cho không cậu học trò Lê Văn Hưu một chiếc dùi sắt..

4. Cấu đối đấy ẩn ý của thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Hằng:

Hoàng tử Tư Thành đang dạo chơi trên bờ sông Tống Sơn (Thanh Hóa), bỗng thấy dưới bến nước một thôn nữ, ăn mặc giản dị nhưng vẻ đẹp ít có đang vo gạo. Hoàng tử cảm xúc dạt dào nên đọc ngay một vế đối:

“Gạo trắng, nước trong, mến cảnh lại càng thêm mến cả…”

Hoàng tử bỏ lửng câu, như có ý thăm dò người đẹp. Nhưng cô gái kia chẳng phải loại quê mùa. Cô nghe xong đáp lại rằng:

“Cát lầm, gió lo đời đâu đó hãy lo cho…”

Hoàng tử rất cảm phục tài đối đáp, cũng như lời khuyên… hững hờ của cô, hoàng tử bèn xin cưới cô làm vợ. Về sau hoàng tử lên ngôi vua là Lê Thánh Tông và cô thôn nữ có tên là Nguyễn Thị Ngọc Hằng ấy trở thành hoàng hậu. Vua Lê Hiến Tông sau này là con bà.

5. Câu đối thể hiện trí nhớ của Hồ Quí Ly:

Tương truyền Hồ Quý Ly lúc hàn vi thường theo cha nuôi họ Lê đi buôn đường biển, một lần thuyền ghé vào bờ, Quý Ly thấy trên bãi biển có ai vạch lên câu thơ:

“Quảng Hàn cung lý nhất Chi Mai” (Quảng Hàn cung nọ một cành mai)

Quy Ly nhẩm thuộc lòng câu thơ đó. Sau này làm quan một hôm hộ giá vua Trần đi chơi, nửa chừng ghé vào tránh nắng ở điện Thanh Thử, thấy trước điện rất nhiều cây quế, vua liên ra câu dối:

“Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế”

(Thanh Thử điện kia ngàn gốc quế)

Quy Ly nhớ lại câu đối kia, nên đọc luôn:

“Quảng Hàn cung lý nhất Chi Mai”

Vế đối chuẩn Vua thấy làm lạ vì trong cung tả có một công chúa tên là Chi Mai (Huy Ninh) tòa lầu của công chúa là cung Quảng Hàn chính do vua đặt tên làm sao mà Quý Ly lại biết. Quý Ly thuật lại chuyện ngày trước, vua cho là lạ duyên trời định bèn gả con gái cho.

6. Câu đối thể hiện tài năng và dũng khí của Giang Văn Minh:

Năm 1638, Giang Văn Minh được vua cho đi sứ sang Trung Quốc. Đến Bắc Kinh, ông vào diện kiến vua Tàu, hồi đó là Minh Tư Tông – Chu Do Kiểm (Sùng Trinh). Chu Do Kiểm cậy mình nước lớn có ý ngạo mạn, coi thường sứ thần nước ta nên ra vế đối như sau:

“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”

(Đồng trụ đến giờ rêu vẫn mọc.)

Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đánh thắng khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ – tức Đại Việt – bị diệt vong).

Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh suy nghĩ giây lát, rồi khẳng khái đối lại là:

“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”

(Bạch Đằng thuở trước máu còn loang.)

Vế đối lại chuẩn về ý, hay về nghĩa, và ngầm nhắc lại việc người Việt đã ba lần nhuốm máu quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng

Chu Do Kiểm tức giận, bất chấp thể diện nước lớn và luật lệ bang giao, cho mổ bụng ông xem gan ông to bằng nào. Sau sợ ta oán hận, hắn cho dùng bột thủy ngân ướp xác ông, gửi về nước làm ma chay.

Thi hài của ông về đến thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng trọng, ra tận nơi bái kiến và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, đồng thời ban tặng câu:

“Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng.”

(Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ.)

7. Câu đối làm bẽ mặt sứ thần phương Bắc của Đoàn Thị Điểm:

Đoàn Thị Điểm dùng thuyền đón sứ thần phương Bắc. Đang đi váy bị gió thổi bay lên. Sứ thần phương Bắc nhìn thấy liền ra câu đối:

“An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh”

 (An Nam có một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày).

Bà liền đối lại:

“Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất” 

(Các đại phu nước phương Bắc, đều do từ chỗ ấy mà ra).

8. Câu đối thể hiện sự bạo dạn ngôn từ của Hồ Xuân Hương:

Nữ sỹ Hồ Xuân Hương có rất nhiều câu đối hay. Xin giới thiệu một câu đối của Xuân Hương đối đáp lại nhà sư vốn là bạn bè cũ. Khi Xuân hương qua chùa chơi, vốn biết Xuân Hương nổi tiếng thơ phú, nhà sư liền cho chú tiểu mang ra vế đối:

“Thông băm sáu bộ chân kinh, dẫu chẳng kim cương La Hán, cũng cao tăng đạt đạo”

Xuân Hương liền bảo chú tiểu đưa bút và viết ngay vế đối lại bên cạnh:

“Dẫu hay ba vạn chín nghìn, không biết méo tròn ngang dọc, thì cũng đếch ra người”

9. Câu đối đón xuân của Nguyễn Công Chứ:

Thủa còn hàn vi gian khó, xuân đến khi còn nợ nần nhiều Nguyễn Công Chứ đã làm một câu đối rằng:

“Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa”
“Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà”

10. Câu đối trêu ghẹo Đoàn Thị Điểm của Trạng Quỳnh:

Một ngày xuân đi hội cùng nhau, Đoàn Thị Điểm nhìn thấy cây xương rồng, ra vế đối muốn thách Trạng Quỳnh:

“Cây xương rồng trồng đất rắn, long vẫn hoàn long”

Long tiếng Hán nghĩa là rồng, nghĩa tiếng Nôm là không chặt.

Trạng Quỳnh liền đối lại là:

“Quả dưa chuột tuột thẳng gang, thử chơi thì thử”

Thử là con chuột, nhưng tiếng nôm nghĩa là làm thử, chưa phải làm thiệt. Chữ nghĩa rất chỉnh mà nội dung lại thể hiện được khả năng “đĩ mồm” của Quỳnh.

11. Hai câu đối đón xuân của Hồ Xuân Hương:

Được xem là hai tuyệt bút của văn học Việt Nam.

“Đêm ba mươi tống cựu, khép cánh càn khôn, một then đưa đẩy khìn khin khít khịt”
“Sáng mồng một nghinh tân, mở lò tạo hóa, hai cánh banh ra toác toạc toàng toang”

“Đêm ba mươi khép cửa càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới”
“Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào”

12. Câu đối cực ngắn và chuẩn của vua Tự Đức:

Cho đến nay chưa ai tìm được câu tương xứng:

“Kia mấy cây mía”
“Có vài cái vò”

13. Những câu đối hay của Nguyễn Khuyến:

– Câu đối làm cho một góa phụ làm nghề bán thịt, khóc chồng và con trai đi đò bị đắm chết cùng lúc:

“Con ơi con! Những mong con kinh sử dùi mài, ơn phụ mẫu nỡ dứt tình xương thịt”
“Chàng hỡi chàng! Sao bội ước hải sơn chan chứa, nghĩa phu thê càng đứt cả ruột gan”

Những từ xương, thịt, ruột, gan rất gần gũi với nghề bán thịt.

– Câu đối làm cho một góa phụ làm nghề thợ nhuộm khóc chồng:

“Thiếp từ thuở lá thắm xe duyên, khi vận tía, lúc cơm đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ”
“Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh”

Những màu tía, đen, đỏ, vàng, hồng, tím, xanh gần gũi với nghề thợ nhuộm.

– Câu đối mừng một đám cưới:

“Giàu có thiếu gì tiền, đi một vài quan không phải lẽ”
“Sang không thì ra bạc, gửi năm ba chữ gọi là tình”

Vế sau: “Sang không” ý chỉ người sang (nhiều chữ không nhiều tiền) hóa ra rất bạc.

– Câu đối viếng một ông kỳ mục trong làng đi tắm chết đuối:

“Vừa mới họp việc làng, mặc áo địa, cầm quạt lông, đủng đỉnh coi như ra dáng nhỉ”
“Thế mà chết đầu nước, lấp ván thiên, vùi đất thịt, viếng thăm thì đã đứt đuôi rồi”

– Câu đối làm cho một cô đầu thờ bà trùm trong làng hát ngày xưa:

“Giàu làm kép hẹp làm đơn, tống táng cho yên hồn phách mẹ”
“Cá kể đầu rau kể mớ, tình tang thêm tủi phận đàn con”

Những từ: kép, đầu, tống táng, tình tang, phách đàn là của nghề hát ả đào.

14. Câu đối mừng bạn trẩy hội chùa Hương của Thành Nguyễn:

Tết đến xuân về, đồ đạc lỉnh kỉnh, vợ con nheo nhóc, hớt hơ hớt hải đón chuyến xe đò về quê cũ.
Ra riêng năm mới, gia thất gọn gàng, cả nhà thư thái, đủng đà đủng đỉnh thuê chiếc thuyền nan đi vãn chùa.

Vợ chồng một người bạn của Thành Nguyễn ở quê lên Hà Nội thuê nhà để mưu sinh. Tết đến xuân về, như bao gia đình khác có con nhỏ, họ bế con xách đồ ra đón xe về quê ăn tết. Rung động trước hình ảnh đó, Thành Nguyễn đã ra câu đối trên.

Đọc những câu đối “để đời” của các danh nhân từ trên xuống dưới, người đọc có thể thấy: điểm khó khi chơi câu đối là đưa vào đó những thành ngữ, và từ láy.

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: