Về vấn đề đặt tên đất nước

Chính quyền đang vận động toàn dân góp ý kiến vào dự thảo sửa đổi hiến pháp năm 1992. Mọi người tham gia, hưởng ứng nhiệt tình, các ý kiến đóng góp – phần lớn là sao chép – gửi về từ khắp nơi. Kỳ sinh hoạt chính trị sôi nổi và rộng khắp này có lợi cho nhiều bên.

Phía nhà cầm quyền thì họ phát hiện được lực lượng đối kháng tiềm tàng, từ đó khoanh vùng để tìm biện pháp đối phó. Phía lực lượng đấu tranh dân chủ, thì họ thấy mình có cơ hội để tuyên truyền cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình.

Còn người dân thì khi thấy đài báo nói nhiều về sửa đổi hiến pháp, họ chịu nghe người khác nói về hiến pháp. Người chủ động hơn thì tìm đọc và thảo luận về hiến pháp. Các thế lực thù địch thì tranh thủ “cái gọi là” các hoạt động kích động, gây rối…

Một vấn đề được nhiều người quan tâm và bàn luận sôi nổi là: có nên đổi tên đất nước từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thành “Việt Nam dân chủ cộng hòa” – trở về tên đất nước giống như hồi mới thành lập năm 1946.

Để đặt tên một đất nước cho đúng, ta phải tìm hiểu ba vấn đề: 1. Trước đây, ông cha ta đặt tên nước như thế nào (điều này có ý nghĩa về mặt địa lý)? 2. Các nước trên thế giới đặt tên nước như thế nào? 3. Hiểu đúng ý nghĩa của từ ngữ để sử dụng?

Tên một đất nước – về mặt nguyên tắc – cần có đủ hai thành tố, để khi xướng tên đất nước ấy lên thì: 1. Người hiểu địa lý có thể hiểu đất nước ấy ở đâu trên quả địa cầu, và 2. Người hiểu chính trị sẽ hiểu đất nước ấy theo chế độ nào.

Trước đây các chế độ của nước ta đều là phong kiến tập quyền, nên nghiên cứu việc ông cha ta đặt tên nước như thế nào chỉ giải quyết vấn đề về mặt địa lý. Vấn đề này phần lớn mọi người đồng tình với hai từ “Việt Nam” nên tôi không bàn thêm nữa.

Về vấn đề các nước trên thế giới đặt tên đất nước họ như thế nào, thì hiện nay thế giới có ba chế độ phổ biến: 1. Quân chủ lập hiến . 2. Cộng hòa (cộng hòa liên bang) và 3. Xã hội chủ nghĩa.

QuocKy

1. Chế độ quân chủ lập hiến:

Chế độ quân chủ lập hiến ngày nay khác với chế độ phong kiến tập quyền xưa kia ở chỗ, nhà vua (nữ hoàng) chỉ là đại diện cho đất nước chứ không có quyền làm chủ (sở hữu) đất nước. Các nước theo chế độ này thường gọi tên đất nước mình bằng hai từ vương quốc + tên địa lý: Vương quốc Anh, Thái Lan, Thụy Điển, Campuchia…

2. Chế độ cộng hòa:

Về nghĩa của từ, thì từ “cộng hòa” có nghĩa gốc tiếng Hán là mọi người (cộng) hòa trộn vào nhau và nguyên tắc của việc hòa trộn này là phổ thông đầu phiếu (công bằng). Vậy thì nội hàm của từ cộng hòa (public) đã chứa bên trong sự dân chủ. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là bình quyền, công bằng nên không ai hơn ai, nên đất nước là của chung tất cả mọi người – nhân dân.

Đó là nghĩa thứ nhất của từ cộng hòa. Còn nghĩa thứ hai, khi nói “cộng hòa” hay đúng hơn là một đất nước theo chế độ cộng hòa, thì đất nước ấy phải có cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành theo đúng “mẫu thể chế của một nhà nước cộng hòa”, thể hiện ở việc có đủ ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Cơ quan lập pháp có nhiệm vụ lập nên cơ chế tổ chức và vận hành của nhà nước. Hành pháp là quản lý, điều hành đất nước. Tư pháp là giám sát, kiểm tra việc tuân thủ hiến pháp, pháp luật. Ba cơ quan này là hoạt động độc lập, theo khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật để theo dõi, từ đó kiểm soát nhau.

Ở nước ta ba cơ quan này đều hoạt động dưới sự lãnh đạo của đảng, tức là đảng vừa đá bóng vừa thổi còi. Nhân dân không được làm chủ, nên chiểu theo nguyên tắc đất nước ta không phải là một đất nước theo chế độ cộng hòa.

Các nước theo chế độ cộng hòa một cách hoàn hảo là Pháp (Cộng hòa Pháp), Đức (Cộng hòa Liên bang Đức – đất nước do nhiều bang ghép lại, hiến pháp chung nhưng các bang có quyền có luật riêng).

3. Chế độ xã hội chủ nghĩa.

Về mặt ngữ nghĩa, thì “chủ nghĩa xã hội” đối nghĩa với “chủ nghĩa cá nhân”. “Tư bản chủ nghĩa” (đúng ra là phải) đối nghĩa với “công bản chủ nghĩa”. Bản ở đây hiểu là bản chất, bản thể… Chủ nghĩa ở đây hiểu nôm na là hướng về, chủ nghĩa xã hội tức là hướng về xã hội.

Cụm từ “xã hội chủ nghĩa” này được đặt tên cho một loại hình xã hội (chế độ) mà trong đó nguyên tắc tổ chức là đảng lãnh đạo. Quyền lực điều hành đất nước nằm trong tay đảng (không phải nhân dân). Và nguyên tắc vận hành là đảng chỉ đạo (nghị quyết), nhà nước thi hành, nhân dân làm chủ (làm chủ nhưng không có quyền).

Các cơ quan tư pháp – giám sát các hoạt động của nhà nước có phù hợp với hiến pháp và pháp luật – nằm dưới sự chỉ đạo của đảng. Đây là điều mâu thuẫn, bất hợp lý… Vì rất dễ dẫn đến việc – mà ta vẫn gọi là – vừa đá bóng vừa thổi còi. Anh có quyền lực, người giám sát anh lại nằm dưới sự chỉ đạo của anh.

***

Từ các căn cứ trên tôi thấy, tên đúng của nước ta – để đúng thực tế đất nước – thì phải là “Chủ nghĩa xã hội Việt Nam”, hoặc “Việt Nam xã hội chủ nghĩa” chứ không có từ “Cộng hòa” ở đầu.

Thế nhưng tên gọi chế độ “Xã hội chủ nghĩa” không chỉ là chính trị. Trong “nội hàm” của nó, tên gọi này bao gồm cả kinh tế. Kinh tế xã hội chủ nghĩa là kinh tế kế hoạch, tập trung. Nhà nước quản lý các quan hệ sản xuất, bao cấp hết các thành phần xã hội. Thứ tư hữu duy nhất của người dân – về nguyên tắc – chỉ có được do tăng gia ở mảnh đất 5%.

Kinh tế hiện tại của nước ta là kinh tế nhiều thành phần – chấp nhận sự có mặt của kinh tế tư nhân (tư bản), nước ngoài – chứ không phải là kinh tế xã hội chủ nghĩa. Vậy nên việc gọi tên nước ta là “Chủ nghĩa xã hội Việt Nam” hay “Việt Nam xã hội chủ nghĩa” cũng mới chỉ đúng có một nửa – đúng về mặt chính trị, sai về mặt kinh tế.

Nếu đất nước này đổi được sang chế độ cộng hòa, quyền lực về tay nhân dân, thì theo nguyên tắc của việc đặt tên đất nước, thì tên nước ta là: “Cộng hòa Việt Nam” hay “Việt Nam Cộng hòa”. Kỳ cục là tên này lại trùng đúng với tên một đất nước mà chế độ hiện nay cho là mù nhìn, và kêu gọi người dân đánh đổ vào năm 1975.

Kết

Tôi không dám phán xét quá khứ, tôi chỉ nói về nguyên tắc của đặt tên đất nước và hiểu đúng về nội hàm của từ ngữ khi sử dụng chúng mà thôi. Khi nhìn lại quá khứ gần, nhìn lại các cuộc bể dâu, ta thấy trong cơn “cuồng” của ý thức hệ và quyền lực, người Việt Nam đã phải hy sinh và trả giá quá nhiều. Xin hãy để cho Việt Nam yên!

***

Giải thích một số từ ngữ liên quan:
– Tổ quốc: đất nước do tổ tông, cha ông để lại. Tổ còn có nghĩa là nơi chốn. Một cộng đồng ở chung một tổ.
– Giang sơn: sông núi.
– Nhà nước: nâng cao của đất nước. Ý là trên đất ấy có nhà, được xây dựng và tổ chức bài bản.
– Quốc gia: nhà nước. Gia là nhà.
– Sơn hà: núi sông – như Non sông.
– Xã tắc: đất nước – từ cũ
– Chế độ: cách thức tổ chức và vận hành của một nhà nước.
– Chính quyền: chính là đúng, là công khai, mọi người công nhận. Chính quyền là quyền lực được mọi người công nhận, trái nghĩa với ngụy quyền, thần quyền, tà quyền.
– Pháp quyền: quyền lực cao nhất thuộc về pháp luật.
– Pháp chế: pháp luật là chế tài cho mọi hoạt động của nhà nước và xã hội.

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: