Siêu chu kỳ của kinh tế thế giới đã chấm dứt

Sự trì trệ của nền kinh tế Trung Quốc đã gây ra tác động rất lớn, không chỉ đối với thị trường 1,3 tỷ dân nội địa mà còn trên phạm vi thế giới. Mặc dù đã phục hồi đôi chút nhưng đà suy giảm liên tục của vàng và dầu mỏ trong vài tháng qua cho thấy thập kỷ bùng nổ của nguyên-nhiên liệu đã chấm dứt.

Đối với phần lớn chúng ta, những người ở ngoài ngành khai khoáng, đây là một tin tốt. Một dấu hiệu cho thấy nền kinh tế toàn cầu đang trở lại bình thường.

Nhu cầu khổng lồ của Trung Quốc đối với các loại năng lượng (dầu mỏ, than đá, khí đốt…) và nguyên liệu thô (vàng, thép, đậu nành…) đã đẩy giá các mặt hàng này tăng liên tục nhiều năm qua. Nhu cầu tăng từ các nền kinh tế đang phát triển khiến tài nguyên cạn kiệt và giá tăng cao. Giá gas dường như chẳng bao giờ giảm, vàng lên đến hơn ngàn USD mỗi ounce.

Chính xu hướng đó đã khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế đặt cược vào Trung Quốc. Vì khó tham gia trực tiếp vào thị trường Trung Quốc, nhiều nhà đầu tư đã mua năng lượng và nguyên liệu thô (NL&NLT) ở những nơi đầu nguồn cung cấp như dầu mỏ từ Nga, quặng sắt từ Australia… rồi bán lại cho Trung Quốc. Từ đó sợi dây liên kết Trung Quốc với đầu nậu trên thế giới hình thành.

Siêu chu kỳ bắt đầu

Cả thế giới đều tham gia vào thị trường này. Ngay cả các quỹ hưu trí ở Mỹ cũng lần đầu tiên đầu tư vào nguyên-nhiên liệu. Cục dự trữ liên bang Mỹ cũng vô tình tham gia vào vòng quay này khi in ra rất nhiều tiền, rồi một phần trong đó đáp ứng nhu cầu đầu cơ vào Trung Quốc và những thị trường mới nổi.

Giá nguyên-nhiên liệu bắt đầu leo thang… Từ năm 2000 đến 2011, giá đồng tăng 450%, dầu mỏ tăng 365% và vàng tăng hơn 500% – lên mức trên 1.900 USD/ounce. Đã có những bàn luận cho rằng giá dầu mỏ có thể lên đến 200 USD/thùng và vàng đạt 10.000 USD/ounce. Đó là thời kỳ mà mọi dự đoán dựa trên giả thiết rằng sự phát triển của Trung Quốc sẽ thiết lập một “siêu chu kỳ” trong đó giá NL&NLT tăng vô hạn định.

Giá các mặt hàng (như vàng và dầu mỏ) thường có xu hướng tăng khi lòng tin vào hệ thống tài chính giảm và ngược lại.

Giá NL&NLT tăng làm giàu cho rất nhiều người, những nhà đầu cơ và lớp người hưởng lợi tư đặc quyền chính trị, gây dựng được khối tài sản khổng lồ. Số tỷ phú trong thời gian này tăng nhanh hơn bao giờ hết. Trong khi đó, giá NL&NLT tăng, đặc biệt là dầu mỏ, đã gây khó khăn cho tầng lớp nghèo và trung lưu, đồng thời cũng kìm hãm sự tăng trưởng của các nước công nghiệp. Trong suốt những năm 2000, những ông trùm dầu mỏ và khoáng sản tăng lên nhanh chóng tỷ lệ thuận với những tai tiếng xấu của họ.

Đó là lý do tại sao giá NL&NLT giảm lại là tin tốt. Sự liên kết các đầu mối cung cấp nguyên-nhiên liệu với Trung Quốc đã chấm dứt. Sau ba thập kỷ tăng trưởng quá nhanh, sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc đã khiến bong bóng NL&NLT xì hơi. Kể từ mức đỉnh tháng 4/2011, chỉ số giá nguyên-nhiên liệu đã giảm 16%. Những tháng gần đây, dòng tiền bắt đầu được rút ra khỏi các quỹ đầu tư các loại mặt hàng này.

Quan điểm về NL&NLT đã thay đổi và người ta nhận thấy rằng, đối với hầu hết các loại mặt hàng này, nhu cầu không tăng trong khi nguồn cung lại tăng. Nhu cầu dầu mỏ ở các nước phát triển đã ổn định từ năm 1995. Chính việc giá dầu mỏ tăng đã khiến nhiều nước như Mỹ và Nhật nỗ lực tìm nguồn năng lượng thay thế và bảo tồn môi trường.

Nhu cầu lẹt đẹt

Giờ đây các nước đang phát triển cũng tìm cách tiết kiệm năng lượng. Trung Quốc đang khuyến khích sử dụng ôtô điện, dù vẫn xây dựng nhiều nhà máy than. Cuộc tranh cãi về viễn cảnh “mức đỉnh của giá dầu mỏ” đã chuyển sang bàn về mức đỉnh của nhu cầu.

Thế giới đang giảm dần lo ngại về việc thiếu NL&NLT. Giá cao đã thúc đẩy việc đầu tư vào các mỏ đồng, nhà máy nhôm và nhiều nguồn nguyên nhiên liệu cơ bản khác. Trong một thập kỷ qua, vốn đầu tư vào NL&NLT, không bao gồm nông nghiệp, đã tăng 600%, trong khi vốn đầu tư vào các ngành khác chỉ tăng 200%.

Đây thực ra là một chu kỳ bình thường của kinh tế thế giới, không phải là “siêu chu kỳ”. Giá nguyên-nhiên liệu tăng đè nén nhu cầu, đồng thời hút tiền và công nghệ vào để tăng nguồn cung, điều này dẫn tới sự dư cung. Trong 200 năm qua, giá bình quân của NL&NLT đều theo chu kỳ này: một thập kỷ tăng, thường là rất nhanh, rồi đến 2 thập kỷ giảm, và dẫn đến kết quả là giá nguyên-nhiên liệu  thực tế không hề tăng kể từ năm 1800. Tuy nhiên, có một số ngoại lệ như dầu mỏ và đồng đã tăng giá đều qua các năm. Riêng giá vàng thì vẫn đứng yên. Giá vàng hôm nay (khoảng 1.500 USD/ounce) chỉ tương đương năm 1980, sau khi điều chỉnh mức lạm phát.

Nếu mô hình lịch sử này trở lại, chúng ta đang bước vào một chu kỳ dài giảm giá NL&NLT, có thể tới hai thập kỷ. Đây là tin tốt cho các nước nhập khẩu. Giá giảm cũng khiến sức mua tăng và ngân sách chính phủ bớt gánh nặng chi tiêu. Ngược lại, các quốc gia “bay cao” thời gian qua nhờ chu kỳ này lại “hạ cánh” về với thực tại.

(Bài viết của Ruchir Sharma, giám đốc thị trường mới nổi và vĩ mô toàn cầu Morgan Stanley, trên Bloomberg).

Nguồn VnMedia.vn

(Tiêu đề bài viết do vienhanlam đặt.)

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: