Những thuật ngữ kinh tế cơ bản

Kinh tế là một ngành, một lĩnh vực của đời sống xã hội, như khoa học, chính trị, văn hóa hay tôn giáo. Kiến thức về kinh tế rất rộng nên ngay cả các chuyên gia kinh tế cũng chưa chắc hiểu hết kiến thức ngành của mình.

Người bình thường thiếu hụt một số kiến thức về kinh tế cũng không phải là điều quá tệ hại. Bạn không nên quá lo lắng. Dưới đây tôi tổng hợp lại một số thuật ngữ kinh tế cơ bản, hy vọng sẽ giúp ích được cho ai đó.

1. Kinh tế vi mô và vĩ mô

Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi, động cơ của người tiêu dùng, giá cả, lợi nhuận, v.v… Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế rộng hơn và những giá trị lớn hơn như lãi suất, GDP và các công cụ khác.

Kinh tế vi mô hữu ích hơn cho các nhà quản trị, còn kinh tế vĩ mô có lợi hơn cho các nhà đầu tư.

2. Quy luật cung–cầu

Bất cứ khi nào nguồn cung tăng sẽ làm cho giá giảm và cầu tăng sẽ làm giá tăng. Vì thế, khi bạn sản xuất thừa ngũ cốc, giá thực phẩm sẽ giảm và ngược lại. Hãy suy nghĩ một cách trực quan, bạn sẽ thấy quy luật này đúng ở mọi nơi trên thế giới.

3. Hiệu dụng biên

Mỗi khi bạn có thêm một thứ gì đó để sử dụng, giá trị của nó đối với bạn sẽ giảm đi. Vì vậy, 100$ khi bạn kiếm 1000$/tháng giá trị hơn so với khi bạn kiếm 1 triệu đô/tháng. Điều này được sử dụng rộng rãi trong việc thiết lập giá cả.

4. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Đây là công cụ cơ bản nhất để đo “kích thước” của một nền kinh tế. Theo khái niệm, GDP sẽ bằng tổng thu nhập của tất cả người dân trong một quốc gia, hoặc tổng giá trị thị trường của tất cả sản phẩm và dịch vụ được sản xuất trong quốc gia đó.

Hiện nay, Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới xét theo GDP (khoảng 14 nghìn tỷ USD). Điều đó có nghĩa rằng, mỗi năm có 14 nghìn tỉ USD giá trị hàng hoá và dịch vụ được sản xuất tại Mỹ.

5. Tốc độ tăng trưởng

Sự phát triển của một nền kinh tế được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP. Vì GDP là thước đo thu nhập của một quốc gia, nên tốc độ tăng trưởng GDP sẽ cho thấy thu nhập trung bình một người dân tăng lên bao nhiêu mỗi năm.

kinh-te

6. Lạm phát

Bạn đã biết rằng giá của hầu hết các sản phẩm hiện nay đều cao hơn so với thời cha ông chúng ta. Lạm phát (tính theo phần trăm) cho thấy mức độ tăng giá của hàng hoá so với năm trước.

Ở những nền kinh tế phát triển, lạm phát hàng năm vào khoảng 2% – điều này có nghĩa là giá các món hàng tăng trung bình 2% mỗi năm. Vai trò cơ bản của ngân hàng nhà nước là kiểm soát tỉ lệ này, giữ nó ở một con số dương thấp.

7. Lãi suất

Khi bạn cho ai đó vay tiền, bạn mong đợi sẽ nhận được thêm một khoản tiền đền bù. Phần tiền này gọi là tiền lãi. Lãi suất là một số dương phản ánh số tiền bạn sẽ nhận được “thừa ra” so với khoản ban đầu bạn cho vay.

Trong ngắn hạn, lãi suất thường được quy định bởi các NHTW. Hiện nay, nó gần tiến về mức 0%. Về lâu dài, lãi suất sẽ do thị trường quyết định và phụ thuộc vào tỉ lệ lạm phát và các viễn cảnh của nền kinh tế. Những cơ chế NHTW dùng để kiểm soát lãi suất ngắn hạn được gọi là chính sách tiền tệ.

8. Lãi suất – Lạm phát – Tăng trưởng

Có một mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất và tỉ lệ tăng trưởng GDP. Mặt khác, lãi suất có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ lạm phát. Vì thế, khi bạn gia tăng lãi suất, lạm phát sẽ có xu hướng đi xuống tuy nhiên đi cùng với nó là kinh tế phát triển chậm lại. Do vậy, không có gì khó hiểu khi việc quy định lãi suất luôn khiến các nhà chức trách phải đau đầu.

Ở Mỹ, cục Dự trữ liên bang chịu trách nhiệm quy định lãi suất ngắn hạn và và đó luôn là một trong những thông tin kinh tế được theo dõi nhiều nhất.

9. Chính sách tài khóa

Chính phủ có thể kiểm soát nền kinh tế bằng cách điều chỉnh chi tiêu. Nhóm các cơ chế sử dụng ngân sách hình thành nên chính sách tài khóa. Khi chính phủ chi tiêu nhiều, dẫn đến cầu nhiều hơn và giá tăng nhiều hơn. Điều này có nghĩa rằng nền kinh tế tăng trưởng tốt nhưng đồng thời mang theo lạm phát cao và ngược lại.

Do đó, các chính phủ cố gắng chi tiêu nhiều hơn trong giai đoạn tăng trưởng thấp và lạm phát thấp, đồng thời thắt chặt chi tiêu trong thời kì tăng trưởng và lạm phát cao.

10. Chu kì kinh tế

Nền kinh tế có những thời kì bùng nổ và khủng hoảng với chu kì khoảng 7 năm. Khởi đầu chu kì là sự bùng nổ kinh tế, sau đó kinh tế phát triển đến cực thịnh, rồi bước vào suy thoái: tăng trưởng âm, phá sản, giải thế, thất nghiệp…

11. Chi phí cơ hội

Khi thực hiện một hành động gì đó, bạn có thường so sánh lợi ích của hành động ấy so với các hành động khác. Ví dụ, vào tối thứ 6 khi phải làm việc cật lực cho một dự án, bạn có thể nghĩ rằng “Trời đất, mình đáng lẽ nên làm việc gì đó khác.” “Việc khác” ấy – ví dụ là tiệc tùng cùng bạn bè – có giá trị cao, và nó chứng tỏ dự án hiện tại của bạn tốt hơn, hấp dẫn hơn.

Giá trị của hành động mà bạn bỏ lỡ được gọi là “chi phí cơ hội”. Vì thế, nếu bạn bỏ một chỗ làm trả lương 120 nghìn đô/năm để bắt đầu lại, chi phí cơ hội của việc bắt đầu lại là 120 nghìn đô/năm. Bạn nên chọn những công việc mang lại thu nhập cao hơn công việc mà mình từ bỏ.

12. Lợi thế so sánh

Bạn đang phát triển một dự án công nghệ…  Bỗng một hôm, khách hàng đến và hỏi rằng “bạn có thể xây dựng cho họ một website không?”. Liệu bạn sẽ đồng ý xây dựng website cho họ hay nhường cơ hội này lại cho người bạn của mình? Làm thế nào để quyết định được?

Thông thường một người sẽ tính toán, anh ta sẽ mất bao nhiêu thời gian để xây dựng website kia, và liệu có thể sử dụng thời gian đó để kiếm được nhiều hơn dự án công nghệ đang làm. Sau đó, anh ta mới tính xem người bạn kia có thể phát triển website hiệu quả hơn mình hay không. Nếu người bạn đó có thể mang lại hiệu quả tốt hơn, và dự án công nghệ hiện tại của anh ta mang lại thu nhập cao hơn, anh ta sẽ bỏ qua cơ hội này.

Đây được gọi là lý thuyết về lợi thế so sánh. Người bạn của anh chàng kia có lợi thế tốt hơn, và anh ta không có lý do gì để nhận công việc kia. Các quốc gia, doanh nghiệp và mỗi người chỉ nên làm những việc mà mình có thế mạnh, và dành phần còn lại cho người khác.

Không phải ai cũng được học bài bản về kinh tế. Nhưng mỗi người chúng ta có thể hoàn thiện kiến thức về lĩnh vực này bằng cách tự học. Đầu tiên là nắm bắt những thuật ngữ ngành. Sau đó là nghiên cứu các bài viết, các buổi nói chuyện, và các sách của các chuyên gia kinh tế để nâng cao trình độ của mình lên.

Do đặc thù kinh tế Việt Nam, người làm kinh tế thì không giảng dạy, còn người giảng dạy thì lại không làm kinh tế, cho nên bạn không cần phải quá e ngại. Hãy cứ tự tin với những nhận định của mình. Ối chuyên gia kinh tế, thậm chí ở tầm thế giới, có lúc còn sai đó thôi.

Sưu tầm

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: