Đang có một thứ tiếng Việt khó hiểu

Hiện nay nước ta đang hình thành một lớp người nói một thứ tiếng Việt khó hiểu với đại bộ phận dân chúng. Trong giao tiếp, khi dùng từ để diễn đạt suy nghĩ của mình, họ thường thêm vào một số từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài.

Bình thường thì đây là đặc điểm của những người nước ngoài đang học tiếng Việt, hay những người Việt Nam rời đất nước từ nhỏ, khi tiếng Việt của họ chưa vững chắc, hoặc một số người sống lâu năm bên nước khác, sử dụng ngôn ngữ nước đó nhiều nên lẫn lộn tiếng họ tiếng ta. Họ nói tiếng Việt lơ lớ, nửa tây nửa ta, gây khó hiểu cho người đối thoại.

Chẳng có gì đáng nói nếu là những người nước ngoài học tiếng Việt hay Việt kiều, vì người Việt ta vốn rất coi trọng những người nước ngoài biết nói tiếng Việt, một thứ tiếng mà ngay cả người Việt cũng cho là khó học.

Đằng này, lớp người trên lại là những người Việt chính hiệu. Không những thế, họ còn sử dụng thứ tiếng Việt khó hiểu ấy ở nơi mà đáng ra phải sử dụng tiếng Việt chuẩn mực và trong sáng nhất, đó là trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Ngôn từ của một nhóm

Dù không ý thức, nhưng chúng ta vẫn thường sử dụng những ngôn từ pha tạp, mà các nhà khoa học gọi là các tiếng lóng hay biệt ngữ. Tiếng xã hội hay biệt ngữ là một thứ ngôn từ được tạo ra và sử dụng trong một phạm vi hẹp, trong khuôn khổ của các nhóm hay tầng lớp xã hội, những người có quan hệ công việc hàng ngày với nhau, như các nhóm học sinh, giáo viên, lái xe, bộ đội, hoặc trong giới buôn lậu, trộm cắp…

Trong tiếng lóng, có sự pha trộn những yếu tố chuẩn và những yếu tố lệch chuẩn. Yếu tố lệch chuẩn là những từ ngữ đã được “đại trà hóa” vì số lượng người dùng quá đông, nên gần như toàn dân có thể hiểu. Ví dụ “phao” (tài liệu chuẩn bị sẵn đưa vào phòng thi để quay cóp), đứt cước (hỏng việc hay thất bại), xê (một chỉ vàng), cô Loan (Đài Loan), vitamin E (đàn bà)…

Đó cũng có thể là những từ ngữ tiếng nước ngoài được đưa vào với mục đích, để chỉ người trong cuộc mới hiểu được. Một học sinh học tiếng Pháp, trong khi nói chuyện với bạn bè, có thể sử dụng một thứ tiếng Việt “bồi” kiểu như: chốn biu-rô (văn phòng), hay toa với moa kết nghĩa ami (tớ với cậu kết bạn) mà không bị phản đối. Đó là thứ ngôn từ của một nhóm, nói trong đó ai cũng hiểu được.

LaiCangNN

Tuy nhiên, với những người ngoài nhóm thì cách nói pha trộn như vậy dễ gây phản cảm. Vì người ta không hiểu những người kia đang nói gì. Như vậy sẽ mất tính kết nối của ngôn ngữ. Nói lai căng làm những người không hiểu mất tự tin, dễ gây ghi ngờ.

Phương tiện thông tin đại chúng là những kênh thông tin của toàn dân, do đó, những người công tác trong các đợn vị này khi giao tiếp, hay phát biểu cần phải dùng tiếng Việt chuẩn, trong sáng để ai cũng có thể hiểu được. Trừ một số trường hợp đặc biệt, do tiếng Việt thiếu từ ngữ diễn đạt, mới phải mượn ngôn từ của đất nước khác.

Phát âm lộn xộn do vay mượn

Cách phát âm một số danh từ như tên đất nước, tên địa phương, tên người của một số nhà đài cũng chưa nhất quán. Người biết tiếng Anh thì phát âm theo tiếng Anh, người biết tiếng Pháp thì phát âm theo tiếng Pháp, rất lộn xộn gây khó chịu cho người nghe. Người quản lý cũng chả thấy phải sửa đổi gì, cứ để mạnh ai nấy xướng!

Nếu việc phát âm lộn xộn chỉ tạo ra sự khó chịu, thì việc vay mượn một số ngôn từ tiếng nước ngoài tràn lan trong các lĩnh vực âm nhạc, biểu diễn, thể thao đang tạo ra một thứ ngôn ngữ lai căng làm hỏng sự trong sáng của tiếng Việt.

Việc vay mượn tiếng nước ngoài một cách tùy tiện của một số người, trong khi tiếng Việt hoàn toàn đủ cho họ dùng, là điều đáng lên án. Khi giao tiếp, họ hay “chêm” một số từ nước ngoài vào cho sang. Ví dụ như “tim” (đội), “fan” (người hâm mộ), “emxi” (người dẫn chương trình)…

Những câu nói lai căng kiểu “Teen bây giờ khác quá!” cần phải bị lên án, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vay mượn một cách không chính đáng như thế là không tôn trọng tiếng mẹ đẻ, và mắc lỗi “dùng từ diễn đạt” ở cả hai thứ tiếng.

Sự vay mượn một số ngôn từ tiếng nước ngoài đã tạo ra một thứ tiếng lóng mới trong xã hội. Thứ tiếng này xa lạ với ngôn ngữ toàn dân. Việc để cho một số người thường làm việc với công chúng sử dụng tràn lan như thế có thể dẫn tới một thảm họa ngôn ngữ.

Đó cũng là sự thất bại của những người đi vay mượn ngôn từ. Học hành không đến nơi đến chốn, coi thường tiếng mẹ đẻ, tạo tiền lệ xấu cho giới trẻ học tập, hợm hĩnh, xính ngoại, thích làm sang…

Đó cũng là lỗi của những người quản lý, khi họ để những việc đó diễn ra phổ biến và nhiều lần đến vậy. Nếu như những người đi vay mượn kia không nhận ra và sửa chữa được, thì người quản lý phải có biện pháp xử lý phù hợp.

Nguyễn Thanh Hương

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: