Chữ Hán không phải là tiếng Hán

Một ngôn ngữ bao giờ cũng gồm tiếng nói (âm) và chữ viết. Tiếng (nói) Việt ta là một thứ tiếng riêng biệt trên toàn thế giới, dù mượn đến hơn 60% từ vựng tiếng Hán. Còn chữ viết, chúng ta dùng chữ viết hệ Latin (a, b, c) – bỏ hệ chữ tượng hình như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Bàn về tham luận “đề nghị dạy chữ Hán trong nhà trường để giữ gìn tiếng Việt và văn hóa Việt Nam” gây nhiều tranh cãi gần đây, ông Đoàn Lê Giang đã có bài viết đưa ra quan điểm của mình để những người ngoài chuyên môn (Ngôn ngữ học) cũng có thể hiểu được.

Chữ Hán là gì?

Chữ Hán là chữ được sinh ra từ nền văn hóa Trung Hoa cổ đại, vào nước ta từ đời Hán (đầu công nguyên), được các thế hệ cha ông ta Việt hóa nó, đọc bằng âm tiếng Hán (tương tự như Hàn Quốc có âm Hán Hàn, Nhật Bản có âm Hán Hòa (Onyomi).

Chữ Hán đã tạo nên 60-70% vốn từ vựng tiếng Việt. Ví dụ: Hà Nội hoàn thành chỉnh trang đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc, thì có lẽ 100% là từ gốc Hán các thời khác nhau. Chữ Hán là loại chữ tượng hình, chữ Sơn () giống núi, chữ Hỏa () giống lửa…

Có người cho là nên dùng chữ Nho cho khỏi nhầm. Dùng cũng được, nhưng nó không chuẩn, vì chữ ấy không chỉ dùng trong các văn bản Nho giáo, mà cả Phật giáo, Đạo giáo và cả những văn hóa khác. Có người nói nên dùng chữ Hán Nôm. Không được, vì trên đời không có chữ đó, mà chỉ có chữ Hán và chữ Nôm.

Vậy chữ Hán là nói tắt của chữ Hán cổ đọc theo âm Việt. Cách nói này rất phổ biến, và được giới nghiên cứu mặc nhiên thừa nhận. Vậy chữ Hán không phải là tiếng Hán, càng không phải Trung văn.

Tại sao chúng ta nên học chữ Hán?

Vì hai lý do. Lý do thứ nhất: chúng ta muốn hiểu sâu được tiếng Việt thì chúng ta cần biết gốc gác tiếng Việt ra sao, tra cứu thế nào.

Ví dụ: từ Minh Tâm, nghĩa là sáng lòng, vì chữ Minh là sáng. Nhưng học trò thắc mắc thế U Minh thì là gì, sáng tối à? Không, “Minh” trong trường hợp này lại là “Tối”. U Minh là mờ mịt. Học trò lại hỏi: Thế Đồng Minh là cùng sáng à? Không, Đồng Minh là cùng phe, vì nó xuất phát từ nghĩa: cùng hội thề. Vì chữ Minh là Thề.

Doan-Le-Giang

Vậy làm thế nào để cô giáo trả lời học sinh những câu hỏi ấy, làm thế nào cho học sinh không hỏi cô mà cũng biết được? Có hai cách:

Cách 1. Học âm tiếng Hán, tự tra từ điển tiếng Việt. Đa số những người giỏi tiếng Việt hiện nay đều hình thành bằng con đường ấy. Nhưng thực ra họ cũng không thật tự tin vì từ ngữ thì vô bờ, sai đúng lẫn lộn, người ta không thể tự tin hoàn toàn được.

Cách 2. Học chữ Hán để có ấn tượng là chữ Hán rất nhiều từ đồng âm, nhiều nghĩa khác nhau. Sau đó biết cách tra từ điển. Từ điển chữ Hán có nhiều loại, rất phức tạp, phải học để có một chút vốn liếng mới tra được. Bằng cách này người ta có thể tự tra cứu, tự học tiếng Việt suốt đời.

Lý do thứ hai: học chữ Hán để cho chúng ta hiểu được văn hóa Việt Nam, chúng ta cảm thấy gắn bó với ông cha. Vì từ trước khi bỏ chữ Hán hoàn toàn vào đầu Thế kỷ 20, toàn bộ di sản văn hóa Việt Nam được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (một thứ chữ được hình thành từ chữ Hán). Chúng ta học chữ Hán để chúng ta hiểu sâu tiếng Việt, từ đó có thể hiểu được vốn văn hóa Việt Nam.

Văn hóa cổ dù có được dịch ra tiếng Việt, như các công trình của Lê Quý Đôn chẳng hạn, nếu không có vốn chữ Hán nhất định, đọc vẫn rất khó hiểu.

Đọc Truyện Kiều, nếu có biết chữ Hán, chữ Nôm thì mới hiểu thấu đáo cái hay của nó. Chúng ta nếu có biết chút ít chữ Hán thì đến các di tích văn hóa (đình chùa miếu mạo), nhìn một tập thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, chúng ta không thấy xa lạ, không thấy mình là “những đứa con thất cước của giống nòi” (chữ của Hoài Thanh).

Học chữ Hán có dễ không?

Học để trở thành học giả uyên thâm dịch được sách vở cổ thì rất khó, nhưng học để biết một số chữ, để biết tra từ điển tiếng Hán, từ đó có thể tự học tiếng Việt suốt đời thì rất dễ. Vì người học chỉ học có hai kỹ năng: đọc, viết, mà không phải học kỹ năng nghe, nói. Đồng thời học chữ Hán như xem tranh, như học ghép hình rất dễ nhớ và thú vị.

Chúng ta là người Việt Nam, văn hóa chúng ta là văn hóa Đông Á, coi trọng gia đình, sống cần kiệm, đề cao đức liêm chính, hiếu kính, hiếu học…Tất cả những điều ấy có xấu không, có nên bỏ không, và có bỏ được không? Phương Tây cũng có điều ấy, đạo đức phương Tây được hình thành từ Cơ Đốc giáo và văn hóa truyền thống của họ, còn đạo đức chúng ta thì từ văn hóa bản địa và văn hóa Đông Á (Nho giáo, Đạo giáo của Trung Quốc, Phật giáo của Ấn Độ).

Những điều ấy được các bậc hiền triết phương Đông nói rất hay và từ rất sớm, các sách vỡ lòng chữ Hán ngày xưa vừa dạy chữ, vừa dạy người thông qua các sách đó rất thú vị và dễ nhớ. Vậy chúng ta có nên học một chút tinh hoa từ đó qua sách chữ Hán nhập môn không?

Nếu chúng ta chỉ lo đuổi theo phương Tây, bằng lòng với thứ ngôn ngữ trong các hộp thoại, tin nhắn với các ký tự lổn nhổn, tiếng Anh lẫn tiếng Việt thì rõ ràng nguy cơ làm giảm sự trong sáng tiếng Việt, mai một văn hóa truyền thống còn cao hơn rất nhiều.

Nguồn Vietnannet.vn

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

6 Responses to Chữ Hán không phải là tiếng Hán

  1. Nguyenmk says:

    “những đứa con thất cước của giống nòi” (chữ của Hoài Thanh).

    Nói một cách áp đặt như ông Hoài Thanh thì rõ là không biết điều. Qua nhiều cuộc bể dâu để người Việt còn tồn tại trên mảnh đất hình chữ S này là nguyện vọng của tiền nhân muốn thoát khỏi cái vòng ” ĐỒNG HÓA ” của người Hán, để chọn một chữ viết hoàn toàn độc lập mà không có một quốc gia thứ hai nào dùng trên toàn cõi hành tinh thì phải hiểu “Cội nguồn” là từ đây.

    Người Việt xưa há chẳng phải đã bị buộc dùng chữ Hán khi quân rợ Đông Hán, rồi nam Hán, Nguyên, Mông và Minh. Qua hàng mấy thế kỷ, chữ Hán là của người Hán mà Trung Hoa, Nhật Bản và Cao Ly đang dùng, còn về chữ Việt có âm hưởng tiếng Hán vì tiền nhân cần phải hóa Việt để ngắn câu nói hay viết thôi, cho nên chúng ta mới có cụm từ tiếng “Hán-Việt”.

    Mượn cách ví dụ của tác giả về chữ “Minh” chữ Hán là sáng (mặt trời và mặt trăng, nhật, nguyệt: ý là vật sáng) còn cách dùng từ Việt chữ “Minh” không đứng riêng rẽ vì sẽ vô nghĩa, nên người Việt chúng ta dùng từ ghép cho trọn nghĩa, cách xếp đặt trước hay sau chữ “Minh là một tuyệt kỹ của ông cha ta.
    – Đồng minh: chung một ý chí sáng suốt, người hiểu nhau.
    – U minh : tối mịt (U) che sáng (Minh), nơi thiếu sáng.
    – Minh bạch: sáng tỏ, trong trắng v..v.

    Học chữ viết Hán tự để hiểu các văn bản xưa của tiền nhân là tốt, vì để hiểu biết thêm những sự kiện văn học sử là niềm đam mê của nhóm sử gia học thuật, người có sở thích nghiên cứu. Còn tìm cách đưa vào chương trình, buộc học sinh phải học, là một hình thức Hán hóa để dần tiến đến việc dùng Hán ngữ làm chữ quốc ngữ trong tương lai. Một dạng thức thôn tính như đã từng làm đốt sách diệt đồ của Tần Vương và Mao cẩu và +$ Việt Nam đã làm nhằm xóa cả một thế hệ. Họ đã thất bại nên muốn tiếp tục con đường dang dở!

    • Vien says:

      Không nên dạy và học chữ Hán, mà nên giải nghĩa chữ Hán trong các đền chùa, văn tự rồi viết chú thích nhỏ bằng chữ quốc ngữ ở bên cạnh.

      Các nước trên thế giới người ta cũng học tiếng Hán, kể cả Mỹ đó, mà người ta có lo đồng hóa đâu? Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc học tiếng Hán từ hàng nghìn năm trước đó, mà cũng có bị đồng hóa đâu? Hiện Việt Nam đang học tiếng Anh, Mỹ, cũng đang bị Mỹ, Hàn Quốc đồng hóa đó thôi. Nếu bản sắc văn hóa mà dễ mất vậy, thì đã mất từ lâu rồi.

      Cổ nhân Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc không tự sáng tạo ra được chữ viết cho mình. May mà có chữ Hán để mượn mà lưu lại được những suy nghĩ của mình cho cháu con. Đúng là trong việc học tiếng Hán có nguy cơ bị đồng hóa, nhưng ta biết trước thì ta sẽ tránh được chứ. Chả lẽ lại bỏ những những lời răn dạy của ông cha đi sao? Học tất cả tiếng của các nước lớn Anh, Pháp, Nga, Trung…

      • Nguyenmk says:

        Việc học ngoại ngữ ở các nước ngoài vùng châu Á là một chương trình không ép buộc và tự chọn. Bộ giáo dục của nước không có quy định nào buộc các trường trung, tiểu học hay đại học phải học một ngôn ngữ nào đó. Việc mở cửa “hành chánh” tiếp đón một ngoại ngữ còn phải tùy thuộc vào mật độ sắc dân mà có những thích nghi thông ngôn, bích chương, bảng chỉ dẫn chứ không áp đặt trên bình diện toàn quốc.

        Lịch sử nước Cao Ly và Nhật Bản cũng gần giống như Việt Nam, là những nhóm di cư đã bị đồng hóa ngôn ngữ từ nghìn năm xa xưa. Chữ Trung Hoa ngày nay cũng không phải là chữ của người Hán phương bắc chính thống, họ cũng vay mượn của các tiểu quốc xưa để kết tinh quốc ngữ đô hộ. Nhật Bản hiện nay cũng đang tìm kiếm một phương thức mới để thay đổi quốc ngữ độc lập, không dựa vào mặt chữ Hán. Phải chăng đây cũng là nỗi băng khoăng của tiền nhân nước Việt từng hoài bão và rồi hoàn chỉnh một kiểu chữ quốc ngữ có một không hai trên hành tinh chúng ta.

        Hãy nhìn vào thực tế của đất nước và con người Việt Nam hôm nay, có phải họ đã mất rất nhiều “bản sắc văn hoá” một dân tộc không chỉ lai căng về nhân dáng mà còn cả văn hóa nữa, thì chuyện đồng hóa con người đã thấm khá sâu rồi. Thời gian còn lại cũng chỉ là giống như người dân trên đất nước Trung Hoa ngày nay, họ đã mất cái gốc từ thời chiến quốc đại lục không thấy rõ hay sao?

        • Vien says:

          Vấn đề nằm ở chỗ gần như tất cả các đền, đình, chùa, miếu ở Việt Nam văn tự viết trên hoành phi, câu đối đều là chữ Hán. Rồi gần như toàn bộ di cảo của tiền nhân, danh nhân xưa cũng vậy.

          Nếu Trung Quốc cũng mất đi bản sắc văn hóa của mình thì ta còn sợ gì nữa? Văn hóa còn được xếp sau sự an toàn và thực phẩm.

          • Nguyenmk says:

            Vấn đề cốt lõi là người đứng đầu ngành giáo dục Việt Nam, có thật họ là người đủ hoặc thừa kiến thức để nhìn ra những cái âm mưu đen tối Hán hóa dân tộc Việt hay không thôi. Hay chính những người nắm trong tay quyền lực là lũ ngoại bang đang mượn xác Việt hồn Chu để tiếp mộng đại mẫu quốc.

            Ngày nay, nhiều chùa chiềng, đền, miếu v.v.., mới xây cũng ghi vào dòng chữ Hán, chứ có phải ngàn năm xưa để lại. Những ai đam mê ngành ngôn ngữ, học thuật và lịch sử thì họ sẽ tìm mà học bởi động lực khai trí của là một sở trường. Việt Nam có gần 90 triệu người chẳng lẽ không có tới một nhân sĩ trí thức đam mê ngành sử học, văn học hay ngôn học để đến nỗi phải bắt buộc cả nước học chữ Hán.

            Ngày trước, ở miền nam có nhiều chùa, đình, miếu họ không ghi Hán tự trên cổng hoặc hai trụ cột trước sân, thay vào đó là chữ Việt thành dạng vuông, tròn hoặc kiểu các nhà Đồ vẽ chữ. Miền nam khi xưa gần như muốn xóa đi càng nhiều Hán làm bộ mặt Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhưng đâu thiếu người kiến thức sâu rộng mặt chữ Hán đồng thời cũng không áp đặt các trường toàn quốc phải học thêm Hán tự.

            • Vien says:

              Khi làm những việc hệ trọng, người cẩn thận thường dò xem cổ kim đã có ai làm chưa, đông tây có ai làm không? Dò thì thấy “cổ kim đông tây” đều có người làm cả. Âu cũng khó trách được họ!

              Ác cảm của Việt Nam với giặc phương Bắc còn nhiều. Điều này xuất phát từ những tội ác mà giặc phương Bắc từng gây ra ở đất Nam. Nên ác cảm đó có thể thông cảm được!

              Văn hoá Trung Quốc là văn hoá đại quốc, thống lĩnh thời man di mọi dợ. Cứ khi nào mạnh là đi chiếm nước khác, chứ ít khi cho các nước xung quanh chung sống hoà bình. Nay Trung Quốc trỗi dậy, thế giới nghi ngờ cũng là điều dễ hiểu!

              Trung Quốc có thực sự muốn trỗi dậy hoà bình không? Chính quyền cộng sản Trung Quốc hiện tại có đại diện cho đất nước và văn hoá Trung Quốc không? Phép thử sai này quá lớn… !

              Xưa kia Trung Quốc bành trướng bằng sức mạnh cứng hay mềm? Điều này ta cũng cần làm rõ. Góc độ khác, người Hoa lại có một bộ phận thương nhân sống rất nhân bản, thuỷ chung, giữ chữ tín, chịu thương chịu khó…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: