Lãnh tụ khác nguyên thủ ở chỗ nào?

Hàng ngày, khi nói hay viết ta vẫn dùng đến từ “lãnh tụ” và từ “nguyên thủ”. Hai từ này đại khái chỉ những người đứng đầu nhà nước, quốc gia… Nhưng nghĩa của chúng giống và khác nhau như thế nào, khi nào thì ta dùng từ “lãnh tụ” và khi nào thì ta dùng từ “nguyên thủ”, ta thử giải nghĩa một lần dưới đây.

Người Việt Nam bây giờ đã dùng thuần chữ Quốc Ngữ, nên không hiểu sâu về nghĩa gốc của từ (chữ trong tiếng Hán) và các căn cứ thực tế để hình thành lên từ (chữ) đó. Theo cách hiểu và dùng hai từ “lãnh tụ” và “nguyên thủ” của người Việt Nam, thì “lãnh tụ” là người đứng đầu một phong trào cách mạng nào đó, còn “nguyên thủ” là những người thực thi phong trào cách mạng đó. Ví dụ Hồ Chí Minh là lãnh tụ, còn Phạm Văn Đồng nguyên thủ.

Vậy “lãnh tụ” phải là đứng đầu một phong trào nào đó, mà khi thành công, phong trào đó tạo ra được những thay đổi mang tính bước ngoặt cho một quốc gia, một vùng châu lục hoặc cả thế giới. Ví dụ, nhân loại gần đây có những lãnh tụ như: Roosevelt, Stalin, Mao, Gandhi, Kim, Fidel, Mandela… Rất nhiều tổng thống Mỹ là những “lãnh tụ”, vì cơ chế bầu cử của họ rất ưu việt, nên thường tìm ra được những người tài giỏi. Rồi họ tạo ra những thay đổi sâu rộng ở nước Mỹ.

***

Cũng căn cứ theo nghĩa của từ, thì “lãnh tụ” có nghĩa rộng hơn “lãnh đạo”. Từ “tụ” (mượn tiếng Hán) là hợp tại, tích lại, hội lại… Từ “đạo” là đường, con đường, phương án, cách thức… Tương ứng với đó là quyền lực của người lãnh tụ lớn hơn quyền lực của người lãnh đạo. Lãnh đạo là người vẫn còn phải nghe lệnh ai đó, còn lãnh tụ là người đứng đầu hoàn toàn – không phải nghe lệnh ai cả. Lãnh tụ là người vạch ra con người và ra hiệu lệnh cho tất cả. Lãnh tụ đứng đầu phong trào cách mạng của mình.

Tuy nhiên, theo nghĩa gốc của tiếng Hán thì từ “lãnh” (hay lĩnh) là cái cổ áo. Căn cứ thực tế để hình thành lên từ (chữ trong tiếng Hán) này là một hoạt động trong triều đình phong kiến Trung Quốc. Đó là khi một người được vua ra lệnh đứng đầu một nhiệm vụ gì đó, thì người đó cần dựng cổ áo lên khi nhận lệnh vua. Tất nhiên, những người dưới quyền phải nghe theo lệnh của ông ta. Vậy thì theo nghĩa gốc của từ này, thì lãnh “nào” cũng phải theo lệnh vua.

“Lãnh tụ” là nghe lệnh vua để hội tụ quần hùng, vậy thì đâu còn là người có quyền cao nhất nữa? Theo cách hiểu của người Việt, thì phải là ông vua bên trên kia – quyền lực cao nhất – mới là “lãnh tụ”. Điều đó cho thấy, trong các chế độ phong kiến tập quyền, đến từ ngữ còn phải “nghe” theo lệnh vua, không dám khi quân phạm thượng… Còn “nguyên thủ” nghĩa là “đứng đầu của những người đứng đầu” – nguyên là nguồn, gốc, đầu tiên, số một; “thủ” là đầu (mượn tiếng Hán).

Ví dụ gần gũi nôm na cho dễ hiểu, ở quy mô nhỏ hơn như trong các doanh nghiệp, “lãnh tụ” là người lãnh đạo, còn nguyên thủ là những người quản lý. Lãnh đạo là người vạch ra con đường, còn người quản lý đôn đốc mọi người thực thi con đường đó, biến nó thành sự thật. Dưới hai từ “lãnh tụ” và “nguyên thủ” là “lãnh đạo”, từ chỉ những người đứng đầu các bộ ban ngành, lĩnh vực của nhà nước, tổng giám đốc các tập đoàn, tổng công ty….

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: