Xã hội học về nhà cao tầng

Nhà cao tầng hay cao ốc dành cho dân cư mà gọi là “chung cư” là không đúng. Âm “chung” trong tiếng Việt trùng với âm “chung” của tiếng Hán. Âm “chung” trong tiếng Việt nghĩa là cùng, cùng nhau; còn âm “chung” trong tiếng Hán – nếu viết là 終 – thì nghĩa là hết, cuối cùng… Thủy chung là từ đầu đến cuối, chung cuộc là cuối cùng, chung kết là cuối cùng kết lại…

Vậy thì “chung cư” nghĩa đúng là “nơi ở cuối cùng”, cách gọi này không hề phù hợp. Ta đem một âm tiếng Việt – “chung”- ghép với một âm của tiếng Hán -“cư”- thành từ ghép “chung cư” lai căng và vô nghĩa. Người Việt Nam vốn bản tính dễ dãi, không xét nét, cứ dùng nhiều dùng bừa thành quen. “Chung cư” – người Việt Nam hiểu là “nơi ở chung của nhiều người”, từ gọi đúng phải là “ở chung” – rất thuần Việt – nhưng nghe không sang.

Người Việt Nam xưa dân số ít, cho đến đầu thế kỷ 20 mới là 20 triệu người, như một câu thơ của thi sĩ Tản Đà: “Dân hai mươi triệu ai người lớn. Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”. 20 triệu trên diện tích 333 ngàn km2 thì rộng rãi. Người Việt Nam xưa thường xây nhà ba hoặc năm gian – quan niệm xưa là đối xứng – với bếp và nhà vệ sinh cách xa nhà chính – gồm ban thờ, phòng khách và buồng ngủ.

Người Việt Nam xưa thường có thiết kế chung là: ban thờ giữa nhà, hai bên có thể là hai giường ngủ cho người già. Thanh niên mới lớn, dựng vợ gả chồng thì vào buồng trong (bên phải và trái nhà chính). Vì quan niệm của người xưa là hương hồn những người đã khuất sống cùng với con cháu trong gia đình. Cùng với thổ công, hương hồn gia tiên bảo vệ cho con cháu. Quỷ dữ và các linh hồn lai vãng không thể mà vào nhà ai đó có ban thờ bài bản để quấy phá.

***

Người thời xưa nấu ăn bằng rơm rạ, lá cây và củi, nên khi nấu ăn mùi khói và mùi thức ăn nhìn chung là khó chịu, thiệt thòi cho người đầu bếp – thường là phụ nữ. Vậy nên người xưa mới xây nhà bếp xa nhà chính – bao gồm ban thờ, phòng khách và buồng ngủ. Khi việc nấu nướng xong xuôi, bưng mâm cơm thịnh soạn lên mời khách. Chỉ ngửi mùi thức ăn đã thấy ngon miệng rồi. Rất sang trọng!

Ngày xưa cũng chưa có hố xí tự hoại và các sản phẩm làm sạch như ngày nay, nên các nhà vệ sinh (xưa gọi là hố xí) phải xây cách xa nhà chính – xa hơn cả nhà bếp – để tránh mùi xú uế. Điều này ở miền Bắc nhìn chung – từ Huế, phía bắc đèo Hải Vân trở ra – thì vào ban đêm của mùa đông là khá bất tiện. Vì người già và trẻ em khi đang ở trong chăn ấm ra ngoài trời lạnh khi đi vệ sinh là khá nguy hiểm. Không khéo đề phòng có thể bị cảm lạnh, nếu bị nặng thậm chí có thể mất mạng.

Chuyện ô nhiễm từ khói, mùi thức ăn hay chất thải nay đã được các công nghệ hiện đại xử lý khá tốt. Cộng với việc các thành thị đông dân do việc di từ nông thôn lên, rồi trung du và miền núi xuống, nên người ta phải xây dựng các “nhà cao tầng cho dân ở” – khác với nhà cao tầng làm văn phòng – tại các thành phố lớn của Việt Nam. Điều này, ở Việt Nam là mới, nhưng ở các nước phát triển, chắc đã có đến cả trăm năm. Người ta còn xây dựng cả nhà cao tầng cho ôtô.

***

Các căn hộ trên các “nhà cao tầng cho dân ở” nói chung có ưu điểm là: tất cả các buồng, phòng đều nằm ở cùng một sàn, rất tiện lợi cho người già và em nhỏ. Tầng nào – cao đến mấy – cũng có thang máy lên tận nơi, khi bước ra khỏi thang máy là tất cả ở cùng một sàn, không phải leo cầu thang bộ. Đây là một ưu điểm lớn và không thể tranh cãi của các căn hộ trên các nhà cao tầng cho dân ở.

Tuy nhiên, người Việt Nam với “quán tính” lâu đời của mình về nhà ở, người ta không thích nhà cao tầng. Lý do lớn nhất không phải vì vấn đề an ninh, an toàn mà người Việt Nam ghét những sự bất tiện của việc ở chung – sau những kinh nghiệm ở các nhà thấp (5) tầng xây từ thời bao cấp. Những vấn đề chật chội, bất tiện, ồn ào, mất vệ sinh của các tòa  nhà thấp tầng cho dân ở thời bao cấp là có thật và là những vấn đề khá nhức nhối.

Dù ghét ở nhà cao tầng vậy, nhưng do các bức thiết của cuộc sống, càng hiện đại nhu cầu về sự riêng tư của các cá nhân càng cao, đất nước thì đông đúc, chật chội, khó khăn nên việc dân cư ở các nhà cao tầng tại Việt Nam là việc tất yếu phải làm. Đây là lối tư duy theo thực tế: “nếu không có được điều mình yêu, thì hãy yêu những điều mình có”. Thập niên vừa qua, các tòa nhà cao tầng cho dân ở tại các thành phố lớn của Việt Nam mọc lên như nấm sau cơn mưa.

Tôi chỉ mong mười, hai mươi năm nữa con cháu tôi, khi xây dựng gia đình có phòng tân hôn riêng để ở, không phải sống chung không gian với đại gia đình “tam tứ đại đồng đường”. Vì suy cho cùng, độc lập trong không gian dẫn đến tự chủ, tự quyết trong tư tưởng và hành động. Một đất nước mà càng có nhiều người độc lập, tự chủ từ sớm thì đất nước đó càng có nhiều cơ hội trở thành nước độc lập, tự chủ một cách bài bản.

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: