Những từ đồng âm Hán Việt dễ gây hiểu nhầm

Tiếng (âm) Việt mượn nhiều của tiếng Hán, tuy người Việt không còn viết như người Hán – kể cả là biến thể chữ Nôm. Một điểm khá thú vị là: có một số đơn vị âm của tiếng Việt trùng với âm của tiếng Hán, làm cho một số người Việt không hiểu nghĩa của từ (mã hóa của âm) dùng sai khi nói hoặc viết. Xin liệt kê ra như sau:

1. Từ “anh”

Từ “anh” trong tiếng Việt chỉ người con trai sinh trước, hoặc là đại từ xưng hô của một người đàn ông sinh trước. Anh ở đây ngược nghĩa với em. Còn chữ “anh” (không phải từ) trong tiếng Hán có rất nhiều nghĩa, người viết chỉ xin kể ra vài nghĩa mà người Việt hay dùng: anh (nếu viết là ) thì là viên ngọc trong suốt (thạch anh), anh (nếu viết là ) – thì là người tài giỏi – tinh anh, anh minh, anh dũng…

2. Từ “chung”

Từ “chung” trong tiếng Việt hiểu nghĩa là cùng, cùng nhau… Còn chữ “chung” trong tiếng Hán – nếu viết là – thì nghĩa là hết, cuối cùng, kết thúc… “Thủy chung” là từ đầu cho đến cuối. Từ “thủy” nếu viết là , thì nghĩa là bắt đầu, khởi đầu, khởi nguồn… Một số từ (âm) “chung” dùng nhiều trong tiếng Việt là: “chung cuộc” là cuối cùng – như rốt cuộc, “chung kết” là cuối cùng kết lại…

3. Từ “chân”

Từ “chân” tiếng Việt chỉ hai chi dưới, bộ phận của cơ thể dùng để đứng, đi lại, chạy nhảy, đá cầu, đá bóng… Còn chữ “chân” trong tiếng Hán – nếu viết là  – thì có nghĩa là thật, thực… “Chân thành” là thành thật, thành thực… Nhiều người không hiểu nghĩa của từ viết là “trân thành”, với ý nghĩa: “dùng từ chân thì là cái bàn chân” – bộ phận thấp nhất cơ thể khi đứng, hay bị bẩn khi đi lại. Từ nghĩa tiếng Việt mà coi thường nghĩa của chữ “chân” trong tiếng Hán. “Chân Thiện Mỹ” là ba giá trị cao quý nhất con người muốn hướng tới…

4. Từ “sát”

Từ “sát” trong tiếng Việt hiểu là bên cạnh hay liền kề, còn từ “sát” trong tiếng Trung: nếu viết là thì nghĩa là giết chết, tiêu diệt… Nếu viết là thì nghĩa là lau chùi, chà xát… Nếu viết là thì nghĩa là xem kỹ: khảo sát, sát hạch… Từ ghép dùng nhầm nhiều là từ “sát nhập”, trong khi từ đúng là “sáp nhập”. Từ “sáp” trong tiếng Trung nghĩa là: cắm, cài, giắt vào… Còn từ “sát nhập” theo cách dùng của ta hiện nay là: ghép một từ tiếng Việt với một từ tiếng Trung. Sát: bên cạnh, liền kề… Nhập (Việt mượn Trung): vào trong, thích hợp….

5. Từ “cảnh”

Từ (âm) “cảnh” trong tiếng Việt là: môi trường xung quanh được cảm nhận qua ngũ quan của con người, chủ yếu là bằng mắt. Chữ (âm) “cảnh” trong tiếng Hán nếu viết là  có nghĩa là biên giới, ranh giới, giới hạn… Nếu viết là  nghĩa là tỉnh ra, ngộ ra… Nếu viết là 景 nghĩa là cảnh vật, phong cảnh như nghĩa tiếng Việt. Nếu viết là  có nghĩa là đề phòng, phòng ngừa… Từ nhiều người không hiểu “cảnh giới”, đã đạt đến đỉnh cao trong (về) lĩnh vực nào đó. Từ “viễn cảnh” nghĩa là cảnh nhìn từ xa, từ “viễn ảnh” dự đoán trong tương lai gần.

Advertisements

Về Thành
Tiến lên phía trước!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: